vanban.org

Bản án 04/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai Tuyên án 14/05/2025 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C. Buộc bà D phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng C thông qua Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C số tiền 34.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. (Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay vốn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C. Buộc bà D phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng C thông qua Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C số tiền 34.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯ PĂH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH GIA LAI
------------
Bản án số: 04/2025/DS-ST
Ngày: 14/5/2025
V/v:“Tranh chấp hợp đồng vay vốn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hòa

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Bình.;

2. Bà Phạm Thị Thoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thuận - Thư ký TAND huyện Chư Păh, Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh, Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2025, tại Toà án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 35/2024/TLST-DS, ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay vốn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST - DS ngày 31 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2025/QĐST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng C.

Địa chỉ: Tòa nhà C, bán đảo L, phường H, quận H, TP ..

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Hữu P – Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C, tỉnh Gia Lai (theo giấy ủy quyền số: 96/NHCS-UQ ngày 01/10/2021). Địa chỉ: Số A H, thị trấn P, huyện C, Gia Lai. Có mặt

2. Bị đơn: Bà Dưng, sinh năm 1992. Địa chỉ: Làng H, xã Đ, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng C (gọi tắt là Ngân hàng) ông Phạm Hữu P trình bày: Căn cứ danh sách hộ gia đình đề nghị vay vốn Chương trình hộ mới thoát nghèo ngày 21/5/2021 của Ủy ban nhân dân xã Đ, Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C đã giải ngân cho bà D số tiền 30.000.000 đồng, khế ước số 6600000720674762, lãi suất 8,25%/năm, ngày vay 21/5/2021 đến hạn ngày 21/5/2026.

Ngân hàng cho vay tín chấp thông qua Ủy ban nhân dân xã Đ và ủy thác qua Hội nông dân xã Đ, huyện C.

Hộ vay đã vi phạm các quy định trong giấy đề nghị vay vốn, vi phạm quy ước hoạt động của tổ tiết kiệm và vay vốn, vi phạm các điều khoản của hợp đồng tín dụng/sổ vay vốn, không chấp hành đúng các quy định cho vay của Ngân hàng C, không thực hiện nộp lãi trong thời gian dài (12 tháng), mặc dù đã được tổ tiết kiệm và vay vốn nhắc nhở nhiều lần, Ngân hàng đã thông báo bằng văn bản từ tháng 7/2023 nhưng đến nay bà D vẫn không thực hiện.

Từ ngày giải ngân đến ngày 21/5/2024 bà D đã đóng tiền lãi với tổng số tiền là 4.972.668 đồng. Còn số tiền gốc bà D chưa thực hiện trả từ ngày vay.

Do đó, để thu hồi tài sản cho Nhà nước, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà D phải thanh toán nợ cho Ngân hàng C thông qua Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C số tiền gốc là 30.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 14/5/2025 là 4.434.104 đồng tổng cộng là 34.434.104 đồng và tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ gốc cho Ngân hàng. Ngoài ra, Ngân hàng không có yêu cầu gì thêm.

Đối với bị đơn bà D: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng bà D không đến Tòa án làm việc. Do đó, Tòa án không lấy được ý kiến của bà D đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà D phải trả cho Ngân hàng C thông qua Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C số tiền 34.434.104 đồng (trong đó: gốc 30.000.000 đồng, lãi tạm tính đến ngày 25/7/2024 là 32.872.737 đồng) và tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ.

Về án phí: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 26 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Buộc bị đơn bà D phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu,chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chư Păh theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thấy rằng: Tại Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay chương trình cho vay hộ thoát nghèo, sổ vay vốn, sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay, thu nợ, dư nợ thể hiện ngày 21/5/2021, Ngân hàng đã giải ngân cho bà D vay số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 8,25%/năm, lãi suất nợ quá hạn là 130% lãi suất khi cho vay, thời hạn vay là 60 tháng, kỳ hạn trả nợ là 12 tháng/lần, số tiền trả nợ là 6.000.000 đồng/lần, mục đích vay là trồng cây cà phê. Hạn trả nợ cuối cùng là ngày 21/5/2026. Lãi tiền vay được trả định kỳ hàng tháng vào ngày 21. Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng bà D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận nên Ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn ngày 21/5/2024. Từ ngày giải ngân đến ngày khởi kiện bà D mới trả được tiền lãi với tổng số tiền là 4.972.668 đồng, còn số tiền gốc bà D không trả nợ theo phần kỳ đã thỏa thuận với Ngân hàng là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà D phải trả số tiền gốc là 30.000.000 đồng trước hạn và tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 14/5/2025 là 4.434.104 đồng và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán nợ xong cho Ngân hàng là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự.

- Điều 100, 103 của Luật các tổ chức tín dụng.

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C. Buộc bà D phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng C thông qua Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C số tiền 34.434.104 đồng, trong đó tiền gốc là 30.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 14/5/2025) là 4.434.104 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. (Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bên phải thi hành án phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay).

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà D phải chịu 1.721.705 đồng để sung quỹ Nhà nước.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Bị đơn, vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ