- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Đình Q phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 26…"
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUÂN KHU 1 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2024/HS-ST Ngày 27/02/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC - QUÂN KHU 1
- Thành phần Hội đồng xét xử (HĐXX) sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: 1// Nguyễn Trung Kiên.
Các Hội thẩm quân nhân:
2// Ngô Minh Hoàng;
2// Nguyễn Ngọc Nhân.
- Thư ký phiên tòa: 3/ Lê Văn Thanh, Thư ký Tòa án quân sự Khu vực - Quân khu 1.
- Đại diện Viện kiểm sát quân sự Khu vực 12 tham gia phiên tòa: 3/ Lâm Anh Duy, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 1, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2024/HSST-QĐ ngày 30 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan Đình Q, sinh ngày 14 tháng 5 năm 1993; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm T, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; chức vụ, đơn vị khi phạm tội: Hợp đồng lao động - Công nhân, Tổ Bốc xếp, Ban Nghiệp vụ, Nhà máy Z, T1; trình độ học vấn: Cao đẳng; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Đình H và bà Trần Thị P; có vợ là Nguyễn Thị Thu H1 và 01 con (sinh năm 2023); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không có án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hay bị xử lý kỷ luật lần nào; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25 tháng 10 năm 2023 đến nay; có mặt.
- Bị hại:
1. Nguyễn Văn C; sinh ngày 20/11/1951; nghề nghiệp: Làm ruộng; nơi cư trú: Xóm L, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên (đã chết ngày 09/9/2023).
Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn C: Bà Nguyễn Thị C1; sinh ngày 07/9/1972; nghề nghiệp: Làm ruộng; nơi cư trú: Xóm L, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên (là con của bị hại Nguyễn Văn C); có mặt.
2. Thân Văn N; sinh ngày 05/11/1990; nghề nghiệp: Công nhân; nơi công tác: Phân xưởng sản xuất thuốc nổ, Nhà máy Z, T1; nơi cư trú: Xóm T, xã Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bảo hiểm xã hội tỉnh T; địa chỉ: Số A, đường Đ, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; người đại diện theo pháp luật: Lò Thị H2; chức vụ: Giám đốc; vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Phạm Minh T; vắng mặt.
2. Phan Đình H; có mặt.
3. Trần Thị P; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 09/9/2023, Phan Đình Q là lao động hợp đồng không xác định thời hạn làm việc tại Tổ B, Ban Nghiệp vụ, Nhà máy Z, T1 điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 20B1-618.92 chở phía sau là Thân Văn N đi theo hướng Thái Nguyên - Lạng Sơn, khi đi đến Km 121+450 QL1B thuộc xóm H, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, lúc này Q đang đi với tốc độ khoảng 60 đến 70 km/h thì quan sát thấy phía trước ngược chiều có xe mô tô biển số đăng ký 20M2-5623 do Nguyễn Văn C điều khiển đang đi ở phần đường bên phải gần giữa đường theo hướng Lạng Sơn - Thái Nguyên, lúc này Q quan sát thấy cách khoảng 08 đến 10m có một lối rẽ phải theo chiều đi của mình, khi cách xe mô tô do Q điều khiển khoảng 07m, ông C đánh lái sang trái để sang đường, thấy vậy Q đánh lái sang phải theo chiều đi để tránh nhưng do khoảng cách quá gần, không kịp giảm tốc độ dẫn đến phần đầu xe, bánh xe và yếm xe bên trái xe mô tô do Q điều khiển va chạm với phần đầu xe, thân xe bên phải xe mô tô do ông C điều khiển. Tai nạn xảy ra làm Phan Đình Q, Thân Văn N, Nguyễn Văn C bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện T2. Đến 18 giờ 30 phút ngày 09/9/2023 thì ông C tử vong, Phan Đình Q bị thương phải điều trị đến ngày 19/9/2023 thì ra viện, Thân Văn N bị xây xát nhẹ, xe mô tô biển số đăng ký 20M2-5623 bị hư hỏng sửa chữa hết 2.200.000 đồng, xe mô tô biển số đăng ký 20B1-618.92 bị hư hỏng sửa chữa hết 3.155.000 đồng.
Quá trình điều tra bị cáo Phan Đình Q đã nhờ gia đình thỏa thuận và bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn C số tiền 180.000.000 đồng.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phan Đình Q khai: Trưa ngày 09/9/2023 bị cáo ăn cơm tại gia đình, quá trình ăn cơm không sử dụng rượu bia, đầu giờ chiều cùng ngày bị cáo đi xe mô tô biển số 20B1-618.92 của bị cáo đến đón anh N rồi đi theo Quốc lộ 01B theo hướng Thái Nguyên-Lạng Sơn để đến nhà máy Z làm việc. Khi đi đến đoạn đường thuộc xóm H, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo nhìn thấy có 01 lối rẽ phải theo chiều đi của mình, do thấy đường vắng nên bị cáo không giảm tốc độ mà vẫn tiếp tục đi với vận tốc khoảng 60 đến 70km/h. Lúc này, bị cáo nhìn thấy phía trước ngược chiều có xe mô tô do ông C điều khiển đang đi ở gần giữa đường theo chiều ngược lại, khi cách xe mô tô do bị cáo điều khiển khoảng 07m thì ông C bất ngờ rẽ trái để sang đường, thấy vậy bị cáo đánh lái sang phải theo chiều đi để tránh nhưng do khoảng cách quá gần, bị cáo không kịp giảm tốc độ nên phần đầu xe, bánh xe và yếm xe bên trái do bị cáo khiển va chạm với phần đầu xe, thân xe bên phải do ông C điều khiển làm bị cáo, anh N và ông C ngã ra đường sau đó được đưa đi cấp cứu, bị cáo không biết trước khi rẽ trái ông C có bật xi nhan hay không. Vị trí va chạm trên đường là sát mép đường bên phải theo chiều đi của bị cáo. Tai nạn xảy ra bị cáo bị thương phải điều trị tại bệnh viện, xe mô tô bị hư hỏng, nhưng do ông C đã tử vong nên bị cáo không yêu cầu giám định và không yêu cầu ai phải bồi thường gì cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại Thân Văn N khai: Trước khi xảy ra va chạm Q là người điều khiển xe mô tô, còn tôi ngồi phía sau xe, khi đó Q đang điều khiển xe đi với tốc độ khoảng 60 Km/h. Do khi đi tôi nhìn sang hai bên đường, không quan sát phía trước nên không nhìn thấy tai nạn xảy ra như thế nào. Sau khi va chạm, tôi bị ngã văng vào rìa đường bên phải, sau đó được đưa đi cấp cứu, do chỉ bị thương nhẹ nên được về nhà ngay không phải nằm viện điều trị. Do chỉ bị thương nhẹ nên tôi từ chối giám định sức khỏe, không yêu cầu ai phải bồi thường gì. Đề nghị HĐXX miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Q.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn C khai: Do tai nạn xảy ra là ngoài ý muốn nên gia đình tôi đã tự nguyện thỏa thuận nhận bồi thường toàn bộ thiệt hại của vụ án với bị cáo Q là 180.000.000 đồng, không yêu cầu bị cáo Q phải bồi thường gì thêm. Đề nghị HĐXX miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Trong quá trình điều tra người làm chứng Phạm Minh T khai: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 09/9/2023, tôi đang ngồi ở nhà thì thấy có người nói là có tai nạn giao thông nên tôi ra hiện trường. Khi đến nơi, tôi thấy một xe mô tô đổ ở trên đường, một xe mô tô đổ ở ngoài lề đường, hai người đàn ông bị thương có nói với tôi là công nhân Nhà máy Z115, còn người đàn ông bị thương nặng đã được đưa đi cấp cứu.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người làm chứng Phan Đình H, Trần Thị P khai: Buổi trưa ngày 09/9/2023 Q ăn cơm cùng gia đình, trong khi ăn không sử dụng rượu, bia. Đến khoảng 14 giờ 40 Q lấy xe mô tô nói là đi làm, khoảng 16 giờ thì Nhà máy thông báo Q bị tai nạn giao thông. Sau khi tai nạn xảy ra do Q bị thương nên có nhờ gia đình đến thỏa thuận bồi thường cho gia đình ông C, số tiền đó là của vợ chồng Q đi làm tích góp được.
Công văn số 1792/BHXH-GĐBHYT ngày 14/11/2023 của Bảo hiểm xã hội tỉnh T xác định: Tổng chi phí cấp cứu cho bị hại Nguyễn Văn C trước khi chết tại Bệnh viện T2 là 2.791.850 đồng, trong đó chi phí đề nghị cơ quan Bảo hiểm xã hội thanh toán là 2.233.480 đồng trong phạm vi quyền lợi Bảo hiểm Y tế, số tiền người bệnh cùng chi trả trong phạm vi quyền lợi Bảo hiểm Y tế là 558.370 đồng.
Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường ngày 09/9/2023, bản ảnh ngày 10/9/2023 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên lập thể hiện: Hiện trường là đoạn ngã ba, không có biển báo hiệu đường bộ, đường thẳng có vạch sơn màu vàng chia đường thành hai chiều, mặt đường rộng 5,60 m được trải nhựa áp phan bằng phẳng. Lấy cột Km 121+500 Quốc lộ 01B bên trái hướng Lạng Sơn-Thái Nguyên làm điểm mốc, mép đường bên phải hướng Thái Nguyên-Lạng Sơn làm mép đường chuẩn. Ký hiệu (1) là dấu vết cày trên mặt đường có kích thước (0,30 x 0,01) m theo hướng Thái Nguyên-Lạng Sơn. Đo từ điểm đầu vết cày, điểm cuối vết cày 1 vào mép đường chuẩn lần lượt là 0,95 m và 0,90 m. Ký hiệu (2) là xe mô tô BKS 20M2-5623 đang nằm đổ trên lòng đường. Đo từ tâm trục bánh xe đằng trước, tâm trục bánh xe đằng sau 2 vào mép đường chuẩn lần lượt là 0,30 m và 1,05 m. Ký hiệu (3) là dấu vết vùng máu, kích thước vùng máu là 1,15 m x 0,65 m. Ký hiệu (4) là dấu vết cày mặt đất, kích thước 0,50 m x 0,20 m. Đo từ tâm vùng máu 3 đến điểm cuối dấu vết cày 4 là 3,60 m. Đo từ điểm đầu vết cày, điểm cuối vết cày vào mép đường chuẩn là 2,60 m và 2,80 m. Ký hiệu (5) là xe mô tô BKS 20B1-61892, xe nằm đổ sườn phải, đuôi xe quay hướng mép đường chuẩn. Đo từ tâm trục bánh xe đằng trước, tâm trục bánh xe đẳng sau vào mép đường chuẩn lần lượt là 4,50 m và 3,50 m. Đo từ tâm trục bánh xe đằng sau 5 đến điểm cuối vết cày 4 là 0,20 m. Đường rẽ vào nhà văn hóa xóm L nằm tại bên phải đường hướng Thái Nguyên-Lạng Sơn có đoạn mở đường rộng 13 m, lòng đường rộng 5 m.
Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, bản ảnh do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên lập hồi 13 giờ 00 phút và 14 giờ 30 phút ngày 12 tháng 9 năm 2023 thể hiện:
Xe mô tô Biển số đăng ký 20M2-5623 nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu đen: Góc bên trái ốp cụm đèn pha có vết mài vỡ nhựa, kích thước (10 x 6) cm. Đầu tay nắm bên phải có vết mài kim loại kích thước (1,5 x 1) cm. Để chân bên trái người điều khiển bị đẩy cong từ trước ra sau hở đầu kim loại; đầu kim loại có vết mài kim loại kích thước (01 x 0,3) cm. Mặt bên phải bánh trước có vết mài cao su dài 30 cm, rộng 5 cm. Đầu tẩu bu di bị đẩy cong từ trước ra sau.
Xe mô tô Biển số đăng ký 20B1-618.97 nhãn hiệu Honda, loại xe Wave màu vàng đen: Góc phải ốp nhựa đèn pha bên phải bị vỡ, kích thước (03 x 0,5) cm. Càng trước bị đẩy cong từ trước ra sau, từ trái sang phải. Óp Mai-ơ bánh trước bên trái người điều khiển, cần nối trục phanh tay có vết mài vỡ kim loại, kích thước (06 x 03) cm. Đầu càng trước bên trái có vết tỳ ấn, mài kim loại, kích thước (04 x 05) cm. Mép bên trái vành bánh trước bị đẩy cong từ ngoài vào trong dài 10 cm, sâu 04 cm. Vùng lốp tại vị trí vành bánh trước bị cong có vết mài trượt cao su kích thước (10 x 3) cm.
Biên bản khám nghiệm tử thi hoặc một phần tử thi, bản ảnh do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên lập hồi 21 giờ 30 phút ngày 09 tháng 9 năm 2023 và kết luận giám định tử thi số 1160/KLGĐTT-KTHS ngày 01 tháng 10 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Nguyên xác định: Nguyên nhân chết của Nguyễn Văn C là vỡ xương hộp sọ, chảy tụ máu trong hộp sọ; gãy nhiều xương sườn, dập rách phổi, chảy tụ máu trong khoang ngực gây suy hô hấp cấp, suy tuần hoàn cấp. Tại phiếu kết quả xét nghiệm ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Trung tâm y tế huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đối với ông Nguyễn Văn C xác định định lượng Ethanol (cồn) trong máu là 4,5 mmol/l.
Tại cáo trạng số 01/CT-VKSQSKV12 ngày 17 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát quân sự Khu vực 12 truy tố bị cáo Phan Đình Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự (BLHS). Tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:
Tuyên bố bị cáo Phan Đình Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; khoản 1, 2 Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Phan Đình Q từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm. Giao bị cáo cho Nhà máy Z, T1 giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về biện pháp tư pháp: Ghi nhận bị cáo đã tự nguyện bồi thường xong cho đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn C số tiền là 180.000.000 đồng. Do bị cáo và bị hại Thân Văn N không yêu cầu bồi thường hay đề nghị gì nên không xem xét giải quyết.
Công văn số 95/BHXH-GĐBHYT ngày 23/01/2024 của Bảo hiểm xã hội tỉnh T xác định không yêu cầu các bên phải bồi hoàn khoản tiền bảo hiểm y tế đã thanh toán.
Bị cáo Phan Đình Q thừa nhận hành vi phạm tội, nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì.
Bị hại Thân Văn N, người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn C nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên, không có ý kiến gì, đề nghị HĐXX miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Nói lời sau cùng, bị cáo gửi lời xin lỗi đến gia đình bị hại, xin chịu trách nhiệm trước pháp luật, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Công an xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên; Cơ quan Điều tra hình sự Khu vực, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng; Viện kiểm sát quân sự Khu vực 12, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, có cơ sở để khẳng định các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội theo nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng và phù hợp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó HĐXX có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 09/9/2023, Phan Đình Q là lao động hợp đồng không xác định thời hạn làm việc tại Tổ B, Ban Nghiệp vụ, Nhà máy Z, T1 điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 20B1-618.92 chở phía sau là Thân Văn N đi theo hướng Thái Nguyên - Lạng Sơn, khi đi đến Km 121+450 QL1B thuộc xóm H, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, do không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức nên phần đầu, bánh, và yếm bên trái xe mô tô do Q điều khiển va chạm với phần đầu, thân, bên phải xe mô tô biển số đăng ký 20M2-5623 do Nguyễn Văn C điều khiển đi theo hướng Lạng Sơn - Thái Nguyên đang đánh lái sang trái để sang đường. Tai nạn xảy ra làm ông Nguyễn Văn C tử vong, Phan Đình Q, Thân Văn N bị thương, xe mô tô biển số đăng ký 20M2-5623 bị hư hỏng sửa chữa hết 2.200.000 đồng, xe mô tô biển số đăng ký 20B1-618.92 bị hư hỏng sửa chữa hết 3.155.000 đồng.
Hành vi không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức đã vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8; khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ; khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải là nguyên nhân dẫn đến tai nạn làm bị hại Nguyễn Văn C tử vong. Vì vậy hành vi của bị cáo Phan Đình Q đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. Do đó đề nghị của Viện kiểm sát quân sự Khu vực 12 là có căn cứ.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện thỏa thuận, bồi thường xong về thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại; có bố đẻ, mẹ đẻ được tặng thưởng Huân Chương chiến công, Huy chương kháng chiến hạng nhất, Huy chương quân kỳ quyết thắng; bị hại Nguyễn Văn C cũng có lỗi để xảy ra tai nạn; được bị hại Thân Văn N xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”; “Người phạm tội thành khẩn khai, báo ăn năn hối cải” quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Về trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của bị hại, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ. Do đó cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên HĐXX thấy rằng, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, trước khi phạm tội có nhân thân tốt, chấp hành nghiêm chính sách pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương, phạm tội lần đầu, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi làm việc ổn định, con còn nhỏ, có khả năng tự cải tạo nên căn cứ vào Điều 65 BLHS và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 được sửa đổi ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS về án treo, không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình, cộng đồng và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 BLHS quy định “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung, tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với hành vi điều khiển xe mô tô chuyển hướng sang đường thiếu chú ý quan sát, không nhường đường cho các xe đi ngược chiều, điều khiển phương tiện tham gia giao thông mà trong máu có nồng độ cồn 4.5mmol/l của bị hại Nguyễn Văn C đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ; khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống tác hại của rượu bia năm 2019 cũng là nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông làm bị cáo Phan Đình Q và bị hại Thân Văn N bị thương. Tuy nhiên do bị hại Nguyễn Văn C đã chết, bị cáo Phan Đình Q, bị hại Thân Văn N từ chối giám định, không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét, xử lý.
Về bồi thường thiệt hại:
Căn cứ khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 591 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Phan Đình Q phải bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Văn C. Ghi nhận bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận và bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn C với tổng số tiền 180.000.000 đồng theo biên bản thỏa thuận lập hồi 08 giờ 30 phút ngày 03/10/2023. Do bị hại Thân Văn N, bị cáo Phan Đình Q không yêu cầu bồi thường nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng
Ghi nhận trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra hình sự Khu vực, T1 đã trả lại cho bị cáo Phan Đình Q 01 xe mô tô Biển số đăng ký 20B1-618.92, 02 mảnh nhựa vỡ, 01 Giấy phép lái xe, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe; trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn C 01 xe mô tô Biển số đăng ký 20M2-5623, 01 mảnh nhựa vỡ, 01 Giấy phép lái xe, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 đôi dép lê màu đen đúng quy định của pháp luật.
Về án phí:
Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 của Quốc hội; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Phan Đình Q phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 260 BLTTHS;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự:
Tuyên bố bị cáo Phan Đình Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; khoản 1, 2, 4, 5 Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Phan Đình Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/02/2024) và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Giao bị cáo Phan Đình Q cho Nhà máy Z, T1 giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người bị kết án được hưởng án treo thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về bồi thường thiệt hại:
Ghi nhận bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận và bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn C với tổng số tiền 180.000.000 (một trăm tám mươi triệu) đồng theo biên bản thỏa thuận lập hồi 08 giờ 30 phút ngày 03/10/2023.
3. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS, bị cáo Phan Đình Q phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án:
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/02/2024) bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên Toà án quân sự Quân khu 1./.
| Nơi nhận: - Phòng GĐKT/TAQSTW; - Phòng TTTL và QLLTP/TAQSTW; - VKSQSQK1; - CQTHAHSQK1; - VKSQSKV12; - PTHAQK1; - CQĐTHSKV-TCCNQP; - Nhà máy Z115, TCCNQP; - Bị cáo; - Bị hại; - Đại diện HP của bị hại; - Người có QL, NVLQĐVA; - Hồ sơ vụ án (02b); - Lưu: Hồ sơ THAHS; K16b. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Thiếu tá Nguyễn Trung Kiên |