- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn Viễn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn V phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2024/HS-ST Ngày 27/02/2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Huyền
2. Ông Nguyễn Thành Nhật.
- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Thanh Thuý, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thùy– Kiểm sát viên;
Ngày 27 tháng 02 năm 2024, tại Nhà văn hóa xã Thần Sa, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên mở phiên toà công khai xét xử lưu động vụ án hình sự thụ lý số 03/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Lường Văn V; Sinh ngày: 15 tháng 03 năm 1978; Tên gọi khác: Không Giới tính: Nam; Nơi cư trú: xóm TS, xã TS, huyện VN, tỉnh TN; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông Dương Khánh Q, sinh năm: 1956 và con bà Hoàng Thị S, sinh năm 1957; Vợ: Đồng Thị V, sinh năm 1981; Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2000 và nhỏ nhất sinh năm 2007; Anh chị em ruội: Gia đình có 02 anh, em. Bị cáo là con thứ 01. ( Bị cáo mang họ của ông nội bị cáo là ông Lường Văn H).
Tiền án, Tiền sự: Không có
Nhân thân: Năm 2004 bị Công an huyện Võ Nhai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, hình thức phạt tiền, bị cáo đã nộp phạt.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2023, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Bị cáo tạm giam có mặt tại phiên tòa.
- Ngƣời bào chữa: Bà Vi Khánh P – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thái Nguyên.
Có mặt tại phiên tòa.
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đồng Thị V, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Xóm TS, xã TS, huyện vn, tỉnh TN.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ 00 phút ngày 27/12/2023, Công an xã TS nhận được tin báo của quần chúng nhân dân có 01 người nam giới điều khiển xe mô tô màu đỏ ở gần khu vực nhà Văn hóa xóm TS có biểu hiển nghi V vi phạm pháp luật. Tổ công tác Công an xã TS đã thành lập tổ công tác và xác minh nguồn tin. Khi đến đoạn đường khu vực thác Bảy tầng thuộc xóm TS, xã TS, huyện VN, tỉnh TN, phát hiện 01 người nam giới có đặc điểm như trong tin báo. Tổ công tác đã yêu cầu để kiểm tra thì người này khai nhận họ và tên là Lường Văn V, sinh năm 1978, cư trú tại: Xóm TS, xã TS, huyện VN, tỉnh TN. Đồng thời, V tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 (một) gói nilon màu đen V cầm ở tay trái, bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục, bột. V khai nhận là ma túy của V để sử dụng. Tổ công tác đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lường Văn V, niêm phong, thu giữ vật chứng là 01 gói nilon chứa chất màu trắng dạng cục, bột của V như nêu trên ký hiệu Al và 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại JUPITER, màu sơn đỏ, BKS: 20L2 3725. Sau đó Công an xã Thần Sa đã chuyển hồ sơ và Lường Văn V đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Võ Nhai để giải quyết theo thẩm quyền.
Tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng số chất màu trắng dạng cục, bột có trong phong bì ký hiệu A1 thu giữ của Lường Văn V ngày 27/12/2023 xác định được khối lượng là 0,362gam, lấy toàn bộ niêm phong vào phong bì ký hiệu M làm vật mẫu gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 131/KL-KTHS ngày 04/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: "Mẫu chất màu trắng dạng cục, bột trong phong bì ký hiệu M gửi giám định là chất ma túy loại Heroine, tổng khối lượng là 0,362 gam".
Tại Cơ quan điều tra, Lường Văn V khai nhận: Do bản thân là người nghiện ma túy, loại Heroine từ đầu năm 2023 đến nay và có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng hơn 08 giờ sáng ngày 27/12/2023 V điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA, loại JUPITER, màu sơn đỏ, BKS: 20L2 3725 (là xe của chị Đồng Thị V, sinh năm 1981 ( vợ của bị cáo) đi từ nhà đến gần nhà văn hóa xóm TS, xã TS, huyện Võ Nhai thì gặp và hỏi mua ma túy của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000 đồng. Người này đồng ý và nhận tiền rồi đi khoảng 15 phút sau quay lại, đưa cho V 01 gói nilon màu đen, bên trong đựng chất màu trắng dạng cục, bột V biết là ma túy. Sau đó V cầm gói ma túy ở tay trái và tiếp tục điều khiển xe máy đi theo hướng đi xóm NS 1, xã TS, huyện VN để tìm chỗ sử dụng, đến đoạn đường rẽ vào thác Bảy tầng thuộc xóm TS, xã TS, huyện Võ Nhai thì bị tổ công tác Công an xã TS, huyện VN kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKSVN ngày 05/02/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Lường Văn V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c, khoản 1 Điều 249 BLHS.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng : Điểm c, khoản 1 Điều 249 , điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt Lường Văn V từ 18 đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong kín ký hiệu M bên trong có 0,346 gam mẫu M còn lại sau giám định và 01 vỏ phong bì cũ ký hiệu M; 01 phong bì niêm phong kín ký hiệu V bên trong có 02 mảnh nilon màu đen và 01 vỏ phong bì cũ ký hiệu A1; Hoàn trả cho chị Đồng Thị V 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại JUPITER, màu sơn đỏ, BKS: 20L2 - 3725, số khung RLCJ5VT105Y110850, số máy 5VT1110850, xe cũ đã qua sử dụng.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật. Trong phần tranh luận bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội vì vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố bị cáo V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo xử phạt bị cáo mức phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện để thể hiện chính sách khoan hồng của Pháp luật và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng điều kiện kinh tế đặc biệt khó nhăn.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an, cơ quan Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Với chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Hồi 08 giờ 30 phút ngày 27/12/2023 tại đoạn đường gần Thác Bảy tầng thuộc địa phận xóm TS, xã TS, huyện VN, tỉnh TN, Lường Văn V đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,362 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân, khi V đang cất giấu trên người thì bị Tổ công tác Công an xã TS phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo Lường Văn V đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và hình phạt viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Điều 249 BLHS quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)…
c, Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”
Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma túy hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết để răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Về nhân thân: Năm 2004 bị Công an huyện Võ Nhai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, hình thức phạt tiền, bị cáo đã nộp phạt.
Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, Lường Văn V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có bố đẻ là người có công cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội Đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, đồng thời cần có một mức hình phạt phù hợp nhằm tiếp tục răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù, lẽ ra bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo sinh sống cùng vợ con tại xóm TS, xã TS, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo không có tài sản riêng, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong kín ký hiệu M bên trong có 0,346 gam mẫu M còn lại sau giám định và 01 vỏ phong bì cũ ký hiệu M; 01 phong bì niêm phong kín ký hiệu V bên trong có 02 mảnh nilon màu đen và 01 vỏ phong bì cũ ký hiệu A1;
- Hoàn trả cho chị Đồng Thị V 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại JUPITER, màu sơn đỏ, BKS: 20L2 - 3725, số khung RLCJ5VT105Y110850, số máy 5VT1110850, xe cũ đã qua sử dụng.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Võ Nhai ).
Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc heroine thu giữ của V, V khai mua của người đàn ông không quen biết tại khu vực gần nhà văn hoá xóm TS, xã TS, huyện VN, tỉnh TN nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Võ Nhai không có đủ căn cứ xác minh làm rõ.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại JUPITER, màu sơn đỏ, BKS: 20L2 – 3725 V dùng để đi mua ma túy. Quá xác minh xác định là tài sản của chị Đồng Thị V, chị V không biết V sử dụng xe đi mua ma túy nên không có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015; Điều 329 BLTTHS năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn V phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Lường Văn V 22 ( hai mươi hai) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/12/2023.
Quyết định tạm giam bị cáo Lường Văn V 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong kín ký hiệu M bên trong có 0,346 gam mẫu M còn lại sau giám định và 01 vỏ phong bì cũ ký hiệu M; 01 phong bì niêm phong kín ký hiệu V bên trong có 02 mảnh nilon màu đen và 01 vỏ phong bì cũ ký hiệu A1;
- Trả lại cho chị Đồng Thị V 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại JUPITER, màu sơn đỏ, BKS: 20L2 - 3725, số khung RLCJ5VT105Y110850, số máy 5VT1110850, xe cũ đã qua sử dụng.
(Vật chứng hiện đang lưu giữ bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Võ Nhai ).
Về án phí: Căn cứ điểm đ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Văn V.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Thái Nguyên;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- VKSND huyện Võ Nhai;
- CCTHADS huyện Võ Nhai;
- Công an huyện Võ Nhai;
- Bị cáo;
- Người có QVNVLQ;
- UBND xã ;
- Hồ sơ vụ án;
Hoàng Thị Huyền
- Lưu.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Thị Huyền
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Võ Nhai; - CCTHADS huyện Võ Nhai; - Công an huyện Võ Nhai; - Bị cáo; - Người có QVNVLQ; - UBND xã ; - Hồ sơ vụ án; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Huyền |