- Tranh chấp gì? án hình sự — "Các bị cáo Võ Văn T; Võ Thị Y; Tống Văn Đ phạm tội: “Đánh bạc”. - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Võ Văn T; Võ Thị Y; Tống Văn Đ phạm tội: “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2024/HS-ST Ngày 02/02/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trịnh Thị Oanh.
Ông Lý Viết Chấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hải Lý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Võ Văn T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 20/8/1989; Nơi sinh: Tỉnh Quảng Nam; Nơi ở hiện nay: Buôn B, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán. Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Võ Văn M, sinh năm 1965 và con bà Hà Thị T, sinh năm 1966; Bị cáo có vợ là Lê Thị X, sinh năm 1990 và có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/8/2023 đến nay, có mặt.
2. Họ và tên: Võ Thị Y; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 30/7/1993. Nơi sinh: Tỉnh Quảng Nam; Nơi ở hiện nay: Buôn A, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Võ Văn M, sinh năm 1965 và con bà Hà Thị T, sinh năm 1966; Bị cáo có chồng là Nguyễn Trần D, sinh năm 1988 và có 01 con sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ tại Trại tạm giam Công an huyện Krông Pắc từ ngày 03/08/2023 đến ngày 10/08/2023 và được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/8/2023 đến nay, có mặt.
3. Họ và tên: Tống Văn Đ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Út;
Sinh ngày 12/12/1970; Nơi sinh: Tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Tống N, sinh năm 1911 và con bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1922 (đều đã chết); Bị cáo có vợ là Phan Thị B, sinh năm 1964 và có 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn, cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/10/2023 đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Lương Ngọc S, sinh năm 2006; địa chỉ: Thôn 4, xã Krông Búk, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
2. Anh Phạm Tấn D, sinh 1985; địa chỉ: Thôn 17, xã Hòa Đông, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
3. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1953; địa chỉ: Thôn 17, xã Hòa Đông, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
4. Bà Nguyễn Thị Thúy P, sinh năm 1986; địa chỉ: 53/3 Bùi Thị Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
5. Bà Hà Thị T, sinh năm 1966; địa chỉ: Buôn Briêng B, xã Ea Knuêc, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
6. Ông Võ Văn M, sinh năm 1965; địa chỉ: Buôn Briêng B, xã Ea Knuêc, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 17 giờ 50 ngày 03/8/2023, Công an huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk bắt quả tang bà Võ Thị Y đang nhận ghi bán số lô, số đề dựa vào kết quả xổ số miền Bắc cho Lương Ngọc S các con số 16 x 5 và 17 x 5 với số tiền 230.000đ.
Quá trình đấu tranh Võ Thị Y khai nhận: Do muốn có tiền tiêu xài nên Y đã nảy sinh ý định ghi bán các số lô, số đề cho khách rồi tổng hợp lại chuyển các số lô, số đề cho Võ Văn T là anh trai của Y chuyển cho nhà cái để hưởng tiền chênh lệch thì T đồng ý. Đối với bao lô, Y ghi cho khách 01 điểm là 14.000đ, chuyển lại cho T 01 điểm là 13.000đ, số tiền 1.000đ/01 điểm là số tiền Y được hưởng; Đối với đánh đầu đuôi Y ghi cho khách 01điểm là 1000đ chuyển cho T 01 điểm là 730đ, số tiền 270đ/01 điểm là số tiền Y được hưởng. Ngày 03/8/2023, Y bắt đầu nhận ghi số lô, số đề cho các đối tượng Phạm Tuấn D, Lương Ngọc S và các đối tượng là khách vãng lai chưa xác định được nhân thân lai lịch. Khi ghi cho khách thì Y có giao cho họ một tờ phơi đề để khi thắng thua thì đối chiếu thanh toán tiền với nhau, cụ thể:
- Nhận ghi cho Phạm Tấn D qua ứng dụng Zalo dựa vào kết quả xổ số của tỉnh Bình Định các số lô, số đề 13 x 15, 15 x 15, 79 x 10, 93 x 10, 21 x 10, 90 x 10 với tổng số tiền là 980.000đ. Đối chiếu kết quả thì D trúng con số 15 x 15 điểm với số tiền trúng là 1.050.000đ. Tổng số tiền D sử dụng đánh bạc là 2.030.000đ.
- Nhận ghi cho Lương Ngọc S dựa vào kết quả xổ số của miền Bắc các con số 16 x 5 và 17 x 5 với tổng số tiền 230.000đ. Tại thời điểm Công an phát hiện hành vi đánh bạc thì chưa có kết quả xổ số miền Bắc. Tổng số tiền S sử dụng đánh bạc là 230.000đ.
- Nhận ghi số lô, số đề cho một số khách vãng lai (chưa xác định được nhân thân lai lịch) dựa vào kết quả xổ số của tỉnh Bình Định với tổng số tiền 4.278.000đ. Đối chiếu kết quả thì trúng các con số 77 x 2, 80 x 5, 70 x 5, 77 x 5, 15 x 5, 27 x 15 với số tiền trúng là 2.590.000đ. Tổng số tiền ghi số lô, số đề dựa vào kết quả xổ số của tỉnh Bình Định là 6.868.000đ.
Số tiền Y nhận ghi lô đề cho khách là 5.488.000đ, Y đã chuyển toàn bộ các số lô, số đề cho T qua ứng dụng Zalo trên điện thoại với tổng số tiền 4.878.780đ và hưởng là 609.220đ. Tổng số tiền Y sử dụng đánh bạc là 9.128.000đ (ghi 5.488.000đ + trúng 3.640.000đ).
Bị cáo T khai nhận: Khoảng cuối tháng 7/2023, trong lúc ngồi uống nước tại Quảng trường 10/3 thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì T có quen biết một người tên H nhà ở thành phố Buôn Ma Thuột. Quá trình nói chuyện thì T biết việc H nhận ghi số lô, số đề nên T đặt vấn đề với H về việc T nhận ghi số lô, số đề cho khách rồi chuyển cho H để hưởng tiền chênh lệch thì H đồng ý. T và H thỏa thuận: Đối với bao lô dựa vào kết quả xổ số miền T, T ghi cho khách 01 điểm là 13.000đ, chuyển lại cho H 01 điểm là 12.600đ, T được hưởng 400đ/01 điểm; Đối với đánh đầu đuôi dựa vào kết quả xổ số miền Trung, T ghi cho khách 730đ/01điểm chuyển cho Huy 01 điểm là 700đ, T hưởng 30đ/01 điểm; Đối với bao lô dựa vào kết quả xổ số miền Bắc, T ghi cho khách 01 điểm/23.000đ, chuyển cho H 01 điểm/22.000đ, T hưởng 1000đ/01 điểm; Đối với đánh đầu đuôi dựa vào kết quả xổ số miền Bắc, T ghi cho khách 01 điểm/800đ, chuyển H 01 điểm/700đ, được hưởng 100đ/01 điểm.
Sau đó chuyển các số lô, số đề cho H thông qua ứng dụng Zalo có tên là “B”, H không cho T số điện thoại mà H lấy số điện thoại 0824014961 kết bạn Zalo với T để liên lạc. H đưa cho T số tài khoản 5228205801885, thỏa thuận cứ một tuần giao dịch tính toán thắng thua tiền số lô, số đề một lần rồi chuyển tiền qua tài khoản nêu trên. Tuy nhiên, T mới nhận ghi lô đề từ ngày 02/8/2023 đến ngày 03/8/2023 thì bị phát hiện nên giữa T và H chưa giao dịch chuyển tiền đánh bạc qua số tài khoản 5228205801885 mà H đưa. Cụ thể T bắt đầu nhận ghi số lô, số đề như sau:
- Ngày 02/8/2023, nhận các số lô, số đề của Tống Văn Đ với số tiền là 3.466.010đ. Đối chiếu kết quả thì trúng con số 25 x 53, 66 x 5, 22 x 5 và trúng chót con số 22 với số tiền là 4.620.000đ. Tổng số tiền đánh bạc dựa vào kết quả xổ số Đà Nẵng là 8.086.010đ (ghi 3.466.010đ + trúng 4.620.000đ).
+ Dựa vào kết quả xổ số của tỉnh Khánh Hòa với số tiền là 50.500đ. Đối chiếu kết quả thì không trúng con số nào. Tổng số tiền đánh bạc dựa vào kết quả xổ số của tỉnh Khánh Hòa là 50.500đ.
+ Dựa vào kết quả xổ số miền Bắc với số tiền là 207.900đ. Đối chiếu kết quả thì không trúng con số nào. Tổng số tiền đánh bạc dựa vào kết quả xổ số miền Bắc là 207.900đ.
Tổng số tiền ngày 02/8/2023, T sử dụng đánh bạc với Đ là 8.343.960đ (ghi 3.723.960đ + trúng 4.620.000đ). T đã chuyển toàn bộ các số lô, số đề cho H qua ứng dụng Zalo trên điện thoại với tổng số tiền 3.496.087đ và hưởng tiền chênh lệch là 228.323đ, T chưa thanh toán tiền thắng thua với H.
- Ngày 03/8/2023, T nhận các số lô, số đề của Võ Thị Y, Tống Văn Đ, Nguyễn Văn D và khách vãng lai, cụ thể:
+ Nhận ghi số lô, số đề dựa vào kết quả xổ số của tỉnh Bình Định của khách vãng lai số tiền 8.147.000đ. Trong đó chuyển nhà cái 7.077.700đ, hưởng chênh lệch 1.069.300đ. Đối chiếu kết quả trúng với số tiền là 7.430.000đ; Tổng số tiền T sử dụng đánh bạc là 15.577.000đ (ghi 8.147.000đ + trúng 7.430.000đ).
+ Nhận ghi số lô, số đề của Võ Thị Y dựa vào kết quả xổ số của tỉnh Bình Định với tổng số tiền 4.878.780đ. Trong đó chuyển nhà cái 4.725.000đ, hưởng chênh lệch 153.780đ. Đối chiếu kết quả thì trúng với tổng số tiền là 3.640.000đ. Tổng số tiền ghi số lô, số đề giữa T và Võ Thị Y là 8.518.780đ (ghi 4.878.780đ + trúng 3.640.000đ).
+ Nhận ghi số lô, số đề của Tống Văn Đ dựa vào kết quả xổ số của tỉnh Bình Định với tổng số tiền là 3.150.930đ, miền bắc 92.400đ. Trong đó chuyển nhà cái 3.075.331đ, hưởng chênh lệch 167.999đ. Đối chiếu kết quả thì trúng con số 45 x 5, 71 x 3, 78 x 10 đài Bình Định với số tiền là 1.260.000đ. Tổng số tiền ghi số lô, số đề giữa T và Tống Văn Đ là 4.503.330đ (ghi 3.243.330đ + trúng 1.260.000đ).
+ Nhận ghi số lô, số đề của đối tượng Nguyễn Văn D dựa vào kết quả xổ số của tỉnh Bình Định với tổng số tiền 448.000đ. Trong đó chuyển nhà cái 375.200đ, hưởng chênh lệch 72.800đ. Đối chiếu kết quả thì trúng các con số 27 x 7 điểm bao lô và trúng đánh chót con số 27 với 20 điểm tổng số tiền trúng là 1.890.000đ. Tổng số tiền ghi số lô, số đề giữa T và Nguyễn Văn D là 2.338.000đ (ghi 448.000đ + trúng 1.890.000đ).
Tổng số tiền ngày 03/8/2023, T sử dụng đánh bạc là 30.937.110đ (ghi 16.717.110đ + trúng 14.220.000đ). Đã chuyển toàn bộ các số lô, số đề cho H qua ứng dụng Zalo trên điện thoại của với tổng số tiền 15.253.231đ, hưởng lợi 1.463.879đ.
Khoảng 13 giờ ngày 03/8/2023, do bận công việc nên T điện thoại nhờ Y đến trông coi nhà giúp T dặn Y về việc nếu ai chuyển tịch đề thì nhận giúp T rồi tổng hợp lại chuyển cho nhà cái trên ứng dụng Zalo “B” trong máy điện thoại của T, Y đồng ý. Tổng số tiền mà Y chuyển số lô, số đề cho nhà cái có tên H qua ứng dụng Zalo “B” với số tiền là 15.253.231đ (T 7.077.700đ; Y 4.725.000đ; Đ 3.075.331đ; D 375.200đ) T và H chưa thanh toán số tiền thắng thua. Khi Y đã chuyển xong lô đề cho H, chưa có kết quả trúng số thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.
Tổng số tiền các ngày 02/8/2023 và ngày 03/8/2023, T sử dụng đánh bạc là 39.281.070đ (ghi 20.441.070đ + trúng 18.840.000đ)
Bị cáo Tống Văn Đ khai nhận: Do làm nghề bán vé số tại chợ xã E, huyện K nên Đ biết việc T nhận ghi số lô, số đề nên đã gặp T và nói Đ nhận ghi số lô, số đề cho khách rồi chuyển lại cho T để hưởng tiền chênh lệch thì T đồng ý. Đ và T thỏa thuận: Đối với bao lô, Đ ghi cho khách 01 điểm/14.000đ, chuyển lại cho T 01 điểm/13.000đ, Đ hưởng 1.000đ/01 điểm; Đối với đánh đầu đuôi 01 điểm/1000đ chuyển 01 điểm/770đ, Đ được hưởng 230đ/01 điểm.
Ngày 02/8/2023, Đ nhận ghi số lô, số đề cho nhiều khách (chưa xác định được nhân thân lai lịch) tổng số tiền là 4.104.000đ chuyển cho T 3.723.960đ, hưởng chênh lệch 380.040đ, khách trúng 4.620.000đ. Ngày 03/8/2023, Đ ghi 3.549.000đ, chuyển cho T 3.243.330đ, hưởng chênh lệch 305.670đ, trúng 1.260.000đ. Tổng số tiền Đ dùng đánh bạc 13.533.000đ.
Hình thức ghi số lô, số đề cụ thể như sau:
Người chơi tự lựa chọn và mua các con số cho mình rồi chờ khi có kết quả xổ số (tùy người chơi chọn mua các con số của kết quả xổ số miền Trung, miền Nam và miền Bắc trong ngày) rồi tiến hành đối chiếu. Nếu có các con số đã mua trong các giải thưởng của kết quả xổ số thì người chơi thắng. Hình thức ghi số lô, số đề có các cách thức đánh, cách thức tính tiền thắng thua gồm:
- Đánh bao lô hai số: Trong kết quả xổ số miền Trung, miền Nam thì gồm có 9 giải thưởng và có 18 dãy các con số thường gọi là “18 lô”, còn trong kết quả xổ số miền Bắc thì gồm có 8 giải thưởng và 27 dãy các con số thường gọi là “27 lô”. Nếu con số người chơi mua (con số có hai số) có trong các “lô” của kết quả xổ số thì người chơi thắng. Đối với đánh bao lô hai con số của kết quả xổ số miền Trung, miền Nam thì 1 điểm = 14.000đ nếu thắng thì 1 điểm = 70.000đ. Đối với đánh bao lô hai con số của kết quả xổ số miền Bắc thì 1điểm = 23.000đ nếu thắng thì 1điểm = 70.000đ.
- Đánh bao lô ba số: Nếu con số người chơi mua (con số có ba số) có trong các “lô” của kết quả xổ số thì người chơi thắng. Đối với đánh bao lô ba số của kết quả xổ số miền Trung, miền Nam thì 1 điểm = 14.000đ nếu thắng thì 1điểm = 500.000đ. Đối với đánh bao lô ba số của kết quả xổ số miền Bắc thì 1 điểm = 23.000đ nếu thắng thì 1điểm = 500.000đ.
- Đánh đá: Người chơi chọn 2 con số bất kỳ mà mình thích, nếu trong kết quả xổ số có 2 con số người chơi chọn thì người chơi thắng. Đối với đánh đá của kết quả xổ số miền Trung, miền Nam thì 1 điểm = 14.000đ nếu thắng thì 1 điểm = 500.000đ. Đối với đánh đá của kết quả xổ số miền Bắc thì 1 điểm = 23.000đ nếu thắng thì 1 điểm = 500.000đ.
- Đánh đầu chót: Người chơi lựa chọn con số bất kỳ rồi đối chiếu với giải Tám (gọi là đầu) và giải Đặc biệt (gọi là chót) của kết quả xổ số nếu có con số người chơi chọn thì người chơi thắng. Đối với đánh đầu chót của kết quả xổ số miền Trung thì 1 điểm = 1.000đ nếu thắng thì 1 điểm = 70.000đ. Đối với đánh con số đầu của kết quả xổ số miền Bắc thì 1 điểm = 1.000đ nếu thắng thì 1 điểm = 70.000đ. Đối với đánh con số chót của kết quả xổ số miền Bắc thì 1 điểm = 1.000đ nếu thắng thì 1 điểm = 70.000đ.
Đánh ba chân giải đặc biệt: Nghĩa là người mua sẽ được chọn mua một con số có ba chữ số, khi dò kết quả người mua và người bán sẽ căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết Miền Trung thì 1 điểm = 1.000đ mà người mua đã chọn để biết thắng hay thua. Số trúng là 03 số cuối cùng của giải đặc biệt. Tỉ lệ trúng tính như sau: cứ 1.000đ (một ngàn đồng) “ba chân” nếu trúng sẽ được 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). (Ví dụ: 555 = 10 có nghĩa là người chơi đánh con số 555 ba số cuối của giải đặc biệt và tính tiền là 10 điểm x 1.000đ = 10.000đ, nếu thắng thì tính thành tiền là 10 điểm x 300.000đ = 3.000.000đ).
Địa điểm mà Võ Văn T và Võ Thị Y dùng để đánh bạc là khuôn viên sân có mái che phía trước căn nhà xây cấp 4; nằm trong thửa đất số 313, tờ bản đồ số 07, diện tích 569m2 tại Buôn B, xã E, huyện K là tài sản thuộc sở hữu của bà Hà Thị T, sinh năm 1969 và ông Võ Văn M, sinh năm 1965 (là mẹ và cha ruột của Võ Văn T và Võ Thị Y).
Cáo trạng số: 04/CT-VKS-HS ngày 04/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk truy tố các bị cáo Võ Văn T, Võ Thị Y và Tống Văn Đ về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS năm 2015.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi của các bị cáo gây ra, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Võ Văn T, Võ Thị Y và Tống Văn Đ về tội: “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Võ Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 năm đến 04 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Tống Văn Đ từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng đến 03 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Thị Y từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 03/08/2023 đến ngày 10/08/2023. Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo Võ Thị Y.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phơi đề bằng giấy có kích thước 3cm x 5cm, trên mặt giấy thể hiện các số lô, số đề gồm MB 16.17 x 5 = 230; 02 (hai) tờ giấy trắng (tịch đề), kích thước 20cm x 15cm, trên mặt giấy có ghi các số lô, số đề.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus, màu đỏ, số Imei: 359500089540328, có số thuê bao 0824014961 của Võ Văn T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus, màu bạc, số Imei: 355352085075014, có số thuê bao 0706142238 của Võ Thị Yến.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền các bị cáo Võ Văn T, Võ Thị Y, Tống Văn Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn D đã tự nguyện giao nộp.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Pắc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật.
Về nội dung: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng đã được thu giữ và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Khoảng 17 giờ 50 ngày 03/08/2022, tại buôn B, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, Công an huyện Krông Pắc bắt quả tang Võ Thị Y đang nhận ghi bán số lô, số đề cho Lương Ngọc S với số tiền 230.000đ. Quá trình đấu tranh đã xác định được trong 02 ngày 02/8/2023 và ngày 03/8/2023, Võ Thị Y đánh bạc với tổng số tiền là 9.128.000đ; Võ Văn T đánh bạc với tổng số tiền là 39.281.070đ; Tống Văn Đ đánh bạc với tổng số tiền là 13.533.000đ. Như vậy, hành vi của các bị cáo Võ Văn T, Võ Thị Y, Tống Văn Đ đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
...
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng. Lô đề là tệ nạn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự an ninh ở địa phương, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội, làm tiêu tán tài sản, kinh tế của nhiều gia đình. Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ đánh bạc dưới hình thức chơi số lô, số đề là vi phạm pháp luật, nhưng vì ham muốn có tiền nhanh chóng nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Để đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo thì việc truy tố, xét xử và buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là cần thiết.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Võ Văn T, Võ Thị Y, Tống Văn Đ đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền sử dụng và thu lợi bất chính từ hành vi đánh bạc; đối với các bị cáo Võ Văn T, Võ Thị Y đều là lao động chính trong gia đình, nuôi con nhỏ, nên được xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Võ Văn T và Tống Văn Đ bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xét vai trò, nhân thân của từng bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này có 3 bị cáo tham gia nhưng chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn.
- Đối với bị cáo Võ Văn T: Là người tích cực thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo là chủ lô đề đã nhận số lô, số đề của các bị cáo Võ Thị Y, Tống Văn Đ, tổng số tiền bị cáo đã dùng để đánh bạc là 39.281.070 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định bị cáo giữ vai trò chính trong vụ án, nên đối với bị cáo cần áp dụng mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác.
- Đối với bị cáo Võ Thị Y và Tống Văn Đ: Đồng phạm với vai trò thực hành. Các bị cáo là người trực tiếp nhận ghi số lô, số đề cho các đối tượng Phạm Tuấn D, Lương Ngọc S và các đối tượng là khách vãng lai chưa xác định được nhân thân lai lịch, rồi tổng hợp lại chuyển các số lô, số đề cho Võ Văn T. Bị cáo Tống Văn Đ phạm tội với tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên nên mức hình phạt cao hơn bị cáo Y.
Xét thấy, các bị cáo Võ Văn T; Tống Văn Đ có nơi cư trú ổn định, nhân thân tốt, mặc dù bị cáo T và Đ có một tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS nên căn cứ quy định tại Điều 2 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và không gây nguy hiểm cho xã hội.
Bị cáo Võ Thị Y phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền đánh bạc của bị cáo không lớn nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn mà cho bị cáo cải tạo không giam giữ để bị cáo tự rèn luyện mình dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng trừng trị, răn đe đối với bị cáo. Bị cáo Y là lao động chính của gia đình, đang nuôi con nhỏ, do đó miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phơi đề bằng giấy có kích thước 3cm x 5cm, trên mặt giấy thể hiện các số lô, số đề gồm MB 16.17 x 5 = 230; 02 (hai) tờ giấy trắng (tịch đề), kích thước 20cm x 15cm, trên mặt giấy có ghi các số lô, số đề.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus, màu đỏ, số Imei: 359500089540328, có số thuê bao 0824014961 của Võ Văn T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus, màu bạc, số Imei: 355352085075014, có số thuê bao 0706142238 của Võ Thị Y.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền số tiền 3.549.000đ của bị cáo Tống Văn Đ; Số tiền 5.588.000đ của bị cáo Võ Thị Y và số tiền 448.000đ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn D tự nguyện giao nộp tại Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Pắc; Số tiền 380.040 đồng của bị cáo Tống Văn Đ; số tiền 11.870.960 đồng của Võ Văn T đã tự nguyện giao tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Đối với địa điểm mà Võ Văn T và Võ Thị Y dùng để đánh bạc là khuôn viên sân có mái che phía trước căn nhà xây cấp 4; nằm trong thửa đất số 313, tờ bản đồ số 07, diện tích 569m2 tại buôn B, xã E, huyện Krông Pắc là tài sản thuộc sở hữu của bà Hà Thị T, sinh năm 1969 và ông Võ Văn M, sinh năm 1965 (là mẹ và cha ruột của các bị cáo Võ Văn T và Võ Thị Y). Việc T và Y đánh bạc tại địa điểm nói trên, bà Hà Thị T và ông Võ Văn M không biết, vì vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với các đối tượng Phạm Tấn D, Lương Ngọc S và Nguyễn Văn D số tiền sử dụng đánh bạc chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc. Phạm Tấn D, Lương Ngọc S và Nguyễn Văn D cũng chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc và gá bạc. Vì vậy, Công an huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Chấp nhận việc Công an huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tách hành vi của người tên Huy có tài khoản Zalo mang tên “B” không xác định được số thuê bao di động; số tài khoản 5228205801885 của Nguyễn Thị Thuý P và một số khách (chưa xác định được nhân thân lai lịch) mua số lô, số đề của Võ Văn T, Võ Thị Y và Tống Văn Đ trong các ngày 02/8/2023; ngày 03/8/2023 ra thành vụ án khác để tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Võ Văn T; Võ Thị Y; Tống Văn Đ phạm tội: “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Văn T 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Tống Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Võ Văn T; Tống Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Thị Y 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 03/08/2023 đến ngày 10/08/2023 (01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ), tương ứng với 24 ngày cải tạo không giam giữ.
Giao bị cáo Võ Thị Y cho Uỷ ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk giám sát và giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Võ Thị Y tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk nhận được quyết định thi hành án. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo Võ Thị Yến.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phơi đề bằng giấy có kích thước 3cm x 5cm, trên mặt giấy thể hiện các số lô, số đề gồm MB 16.17 x 5 = 230; 02 (hai) tờ giấy trắng (tịch đề), kích thước 20cm x 15cm, trên mặt giấy có ghi các số lô, số đề.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus, màu đỏ, số Imei: 359500089540328, có số thuê bao 0824014961 của Võ Văn T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus, màu bạc, số Imei: 355352085075014, có số thuê bao 0706142238 của Võ Thị Y (đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/01/2024).
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: Số tiền 3.549.000đ của bị cáo Tống Văn Đ; Số tiền 5.588.000đ của bị cáo Võ Thị Y và số tiền 448.000đ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn D đã tự nguyện giao nộp tại Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Pắc; Số tiền 380.040 đồng của bị cáo Tống Văn Đ; số tiền 11.870.960 đồng của bị cáo Võ Văn T đã tự nguyện giao nộp lần lượt theo các biên lai thu số 60AA/2021/0006267 ngày 08/01/2024; 60AA/2021/0006280 ngày 29/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
4. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo Võ Văn T; Võ Thị Yến; Tống Văn Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - - TAND tỉnh Đắk Lắk; - - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - - VKSND huyện Krông Pắc; - - CQCSĐT Công an huyện Krông Pắc; - - CCTHADS huyện K; - - Sở Tư pháp; - - Phòng HSNVCA Đắk Lắk; - - UBND xã Ea Knuêc, huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk; - - Bị cáo; người liên quan... - - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lưu Thị Ngọc Thủy |