vanban.org

Bản án 04/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Phùng Mạnh Q.

[2] Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị Thu H được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Phùng Nhật M, sinh ngày 31/10/2021 (con trai), cho đến khi cháu Phùng Nhật M trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh Phùng Mạnh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? [1] Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Phùng Mạnh Q.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HNGĐ-ST.
Ngày 18 - 01 - 2024.
V/v: “ ly hôn, nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương và bà Lê Thị Tuyết Thanh. Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 80/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023, về tranh chấp “ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08/01/2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1993.

Nơi ĐKHKTT: tổ 1, phường THĐ, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; địa chỉ: Tiểu khu CG, thị trấn KK, huyện TL, tỉnh Hà Nam.

* Bị đơn: Anh Phùng Mạnh Q, sinh năm 1993; địa chỉ: số nhà 228, đường ĐTH, tổ 1, phường THĐ, thành phố PL, tỉnh Hà Nam. Phiên tòa vắng mặt chị H có lý do, vắng mặt anh Q không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, lời khai, các tài liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Phùng Mạnh Q có đăng ký kết hôn vào ngày 25/3/2022 tại Ủy ban nhân dân phường Trần Hưng Đạo, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện vì trước đó vợ chồng chị đã có thời gian tìm hiểu nhau được 10 năm, sau đó được tổ chức cưới hỏi theo phong tục tại địa phương hai bên. Sau ngày cưới, chị về nhà anh Q sống tại tổ 1, phường THĐ được gần 01 năm thì vợ chồng chị đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng chị bất đồng về quan điểm sống, cách sống mà khi tìm hiểu nhau chị không nhận ra được nên cuộc sống hôn nhân của vợ chồng chị không có sự chia sẻ với nhau, không có tiếng nói chung và không có hạnh phúc như mong muốn. Do mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục được nên tháng 11 năm 2022 vợ chồng chị đã sống ly thân đến nay. Trong thời gian ly thân, chị về nhà bố mẹ đẻ chị ở tiều khu CG, thị trấn KK, huyện TL sống nên hai bên chấm dứt quan hệ vợ chồng, không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm dành cho anh Q không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và mâu thuẫn vợ chồng chị không thể hàn gắn được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phùng Mạnh Q.

- Về con chung: Vợ chồng chị chỉ có một con chung duy nhất là cháu Phùng Nhật M, sinh ngày 31/10/2021 (con trai) do chị nuôi dưỡng, chăm sóc cháu từ bé đến nay. Do cháu Nhật M còn nhỏ, đã quen ở với chị và cháu đang phát triển ổn định. Vì vậy, khi ly hôn chị đề nghị giao cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung Phùng Nhật M và chị không yêu cầu anh Phùng Mạnh Q phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

Con riêng, con nuôi: Vợ chồng không có nên chị không đề nghị giải quyết.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng chị không có nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Phùng Mạnh Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, các giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cùng các văn bản tố tụng khác nhiều lần, nhưng không chấp hành giấy triệu tập và các văn bản tố tụng của Tòa án. Do vậy, không có quan điểm của anh Phùng Mạnh Q.

* Quan điểm của ông Phùng Mạnh H (bố đẻ anh Q): Về quan hệ hôn nhân, gia đình ông không muốn vợ chồng con ông ly hôn nhưng việc ly hôn là do vợ chồng con ông quyết định chứ gia đình ông không can thiệp, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Vợ chồng chị H, anh Q có 01 con trai chung là cháu Phùng Nhật M do chị H đang nuôi dưỡng. Nếu vợ chồng con ông phải ly hôn mà chị H có nguyện vọng muốn nuôi cháu Nhật M thì đề nghị Toà án giao cho chị H nuôi dưỡng để cháu phát triển thuận lợi. Về tài sản chung và công nợ chung: chị H và anh Q không có.

* Quan điểm của đại diện Ủy ban nhân dân phường Trần Hưng Đạo: Đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn và việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung của vợ chồng chị H, anh Q theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng; ý kiến về việc giải quyết vụ án.

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký:

+ Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn như: thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.

+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên tòa: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Cụ thể bị đơn không chấp hành các văn bản tố tụng của Tòa án, vắng mặt không có lý do tại các buổi làm việc, hòa giải, tại các phiên tòa.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định:

Áp dụng các Điều 28; 35; 39; 68; 147; 227; 228; 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 51; 56; 58; 81; 82; 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H.

- Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Phùng Mạnh Q.

- Về con chung: Giao cháu Phùng Nhật M cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng và anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.

- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Bị đơn anh Phùng Mạnh Q có nơi cư trú tại số nhà 228, đường ĐTH, tổ 1, phường THĐ, thành phố PL, tỉnh Hà Nam. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án “kiện ly hôn, nuôi con chung” giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Phùng Mạnh Q thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

Về việc xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Phùng Mạnh Q vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nhưng trước đó anh cũng đã vắng mặt tại phiên tòa ngày 08/01/2024 không có lý do nên việc xét xử vắng mặt chị H, anh Q tại phiên tòa được thực hiện theo quy định tại các Điều 227; 228; 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Phùng Mạnh Q lấy nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 25/3/2022 tại Ủy ban nhân dân phường THĐ, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam là hoàn toàn tự nguyện nên đã thỏa mãn với điều kiện, trình tự, thủ tục kết hôn được Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị có thời gian gần 01 năm chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị H là do quá trình chung sống hai bên không phù hợp về quan điểm sống, cách sống và không thể có tiếng nói chung nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2022 đến nay và không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Quá trình giải quyết tại Tòa án, mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Q nhiều lần để tham gia các buổi làm việc, các phiên họp hoà giải tại Tòa án nhưng anh Q đều vắng mặt và tại phiên tòa hôm nay anh Q vẫn vắng mặt không có lý do. Quá trình giải quyết, tại đơn đề nghị xin vắng mặt chị H cương quyết xin ly hôn anh Q. Điều đó, chứng tỏ vợ chồng anh chị không còn đồng cảm về cách nghĩ và không mong muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân với nhau nữa. Xét thấy, cuộc hôn nhân của vợ chồng anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc giải quyết ly hôn là cần thiết nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H là phù hợp với thực tế và pháp luật được quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Phùng Nhật M, sinh ngày 31/10/2021 (con trai). Xét nguyện vọng chị H và căn cứ vào thực tế điều kiện nuôi dưỡng cháu Nhật M hiện nay, Hội đồng xét xử thấy từ khi vợ chồng anh chị sống ly thân thì cháu Phùng Nhật M do chị H nuôi dưỡng, cháu phát triển ổn định và do cháu còn nhỏ nên sự chăm sóc của người mẹ vẫn tốt hơn cả. Do đó, cần giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Phùng Nhật M là phù hợp thực tế và pháp luật theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Do chị H không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung nên anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.

Về con nuôi, con riêng: Chị H xác định vợ chồng không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và công nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí ly hôn: Chị H phải nộp theo quy định của pháp luật.

Về Q kháng cáo: Chị H, anh Q thực hiện theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68; Điều 144; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ các Điều 51; 56; 58; 81; 82; 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Phùng Mạnh Q.

[2] Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị Thu H được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Phùng Nhật M, sinh ngày 31/10/2021 (con trai), cho đến khi cháu Phùng Nhật M trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh Phùng Mạnh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Nguyễn Thị Thu H.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

[3] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thu H phải nộp là 300.000đ, được đối trừ với 300.000đ mà chị H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0000306 ngày 01/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Chị H đã nộp đủ án phí.

[4] Về Q kháng cáo: Chị H, anh Q vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ