- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị T và anh H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị T được ly hôn ông Lê Xuân H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2024/HNGĐ-ST Ngày 19-01-2024 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Khang
Bà Phạm Thị Ngọc Hà
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Tô Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 66/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 809/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị T; nơi cư trú: Đường N, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Xuân H; nơi cư trú: Đường N, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 10 tháng 6 năm 2023, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Bùi Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 1992, bà Bùi Thị T và ông Lê Xuân H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 28/9/1992 tại Ủy ban nhân dân xã Duyên Hải, Hện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2001 thì ông H nghiện ma túy. Gia đình có tài sản gì có giá trị ông H đều mang đi bán để có tiền sử dụng ma túy. Thời gian gần đây, ông H thường xuyên kiếm cớ chửi bới, đánh đập bà T, con cái là hàng xóm láng giềng đều chứng kiến. Vợ chồng tuy sống chung một nhà nhưng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau về tình cảm và kinh tế. Đến nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, bà T đề nghị Toà án cho bà được ly hôn ông H.
- Về việc nuôi con: Bà T và ông H có ba con chung là Lê Thị Thu H, sinh ngày 22/10/1992, Lê Thị Phương A, sinh ngày 26/10/1997 và Lê Xuân H1, sinh ngày 15/11/2002. Các con đều đã thành niên nên bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về việc chia tài sản: Bà T và ông H tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng ông H đều vắng mặt không có lý do, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không ghi được lời khai của ông H và không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, bà T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, vi phạm quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho bà T được ly hôn ông H. Về việc nuôi con, Bà T và ông H có ba con chung là Lê Thị Thu H, sinh ngày 22/10/1992, Lê Thị Phương A, sinh ngày 26/10/1997 và Lê Xuân H1, sinh ngày 15/11/2002. Các con đều đã thành niên nên không xem xét giải quyết. Về việc chia tài sản, bà T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết. Bà T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về pháp luật tố tụng:
+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Bà Bùi Thị T khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn là quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn:
Bà Bùi Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông Lê Xuân H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về áp dụng pháp luật nội dung:
+ Về quan hệ hôn nhân:
Bà Bùi Thị T và ông Lê Xuân H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn của bà T và ông H qua các tài liệu, chứng cứ Tòa án đã thu thập thể hiện sau khi kết hôn, ông bà sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2001 thì phát sinh mâu thuẫn do ông H nghiện ma túy, thường xuyên chửi mắng và đánh đập bà T. Bà T và ông H đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau về tình cảm và kinh tế. Xét mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình mà ở đó vợ chồng phải biết yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, phải được xây dựng trên nền tảng tình cảm, sự nỗ lực từ hai phía của cả vợ và chồng. Trên thực tế, quan hệ hôn nhân của bà T và ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
+ Về việc nuôi con:
Bà Bùi Thị T và ông Lê Xuân H có ba con chung là Lê Thị Thu H, sinh ngày 22/10/1992, Lê Thị Phương A, sinh ngày 26/10/1997 và Lê Xuân H1, sinh ngày 15/11/2002. Các con đều đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
+ Về việc chia tài sản:
Bà Bùi Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
+ Về án phí:
Bà Bùi Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị T được ly hôn ông Lê Xuân H.
2. Về việc nuôi con: Bà Bùi Thị T và ông Lê Xuân H có ba con chung là Lê Thị Thu H, sinh ngày 22/10/1992, Lê Thị Phương A, sinh ngày 26/10/1997 và Lê Xuân H1, sinh ngày 15/11/2002. Các con đều đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
3. Về việc chia tài sản: Bà Bùi Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Bà Bùi Thị T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006924 ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Bà Bùi Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo đối với bản án:
Nguyên đơn bà Bùi Thị T và bị đơn ông Lê Xuân H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND quận Ngô Quyền; - Chi cục THADS quận Ngô Quyền; - Đương sự; - UBND xã Duyên Hải, Hện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (ĐKHK ngày 28/9/1992); - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hảo |