vanban.org

Bản án 04/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Bá A - Nguyễn Thị H"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN
TỈNH BÀ RỊA -VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HNGĐ-ST
Ngày 02-02-2024
Về: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Lộc

Ông Nguyễn Thế Bảo

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Tín, thư ký Tòa án nhân dân

huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 02 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 407/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023, về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXX-ST ngày 15 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Ông Nguyễn Bá Á, sinh năm 1984; địa chỉ: Phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

+ Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1993; địa chỉ: Số A, ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Các đương sự đều yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 17 tháng 8 năm 2023 và quá trình tố tụng tại tòa ông Nguyễn Bá Á trình bày: Ông Nguyễn Bá Á với bà Nguyễn Thị H tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2011, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn số: 41-TT, quyển số 05/2011, do UBND phường T cấp ngày 28-4-2011. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung tại phố D, huyện T, TP T, tỉnh Thanh Hóa.

Vợ chồng sống chung khoảng tháng 5 năm 2012 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm do vậy cả 2 tự sống ly thân từ tháng 4/2013 đến nay. Ông Á nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Không có. Về tài sản chung: Không có nên ông Á không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tham gia tố tụng bà Nguyễn Thị H xác nhận: Bà Nguyễn Thị H tự nguyện sống chung với ông Nguyễn Bá Á từ năm 2011, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường T vào ngày 28-4-2011. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và không ai ép buộc.

Sau khi cưới vợ chồng sống tại quê Thanh Hóa được khoảng 6 tháng thì phát sinh mâu thuẫn về tình cảm, tính tình, quan điểm sống không hòa hợp, do không giải quyết được nên bà H chuyển vào huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sinh sống và từ đó vợ chồng tự sống ly thân đến nay. Nay ông Á yêu cầu ly hôn bà H đồng ý. Bà xác nhận bà với ông Á không có có chung.

Về tài sản chung: Không có nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: quá trình thụ lý, thu thập chứng cứ Thẩm phán và các đương sự tuân theo quy định của pháp luật.

Tại phiên xét xử, Hội đồng xét xử, thư ký tuân theo quy định của pháp luật. Do các đương sự có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và yêu cầu của đương sự tuân theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xử vắng mặt nguyên, bị đơn theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, quá trình tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Ông Nguyễn Bá Á yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Thị H, xác định quan hệ tranh chấp là ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà H hiện đang sinh sống tại huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Bá Á bà Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

Về nội dung:

Xét về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Bá Á và bà Nguyễn Thị H sống chung từ năm 2011, đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nên hôn nhân giữa ông Á và bà H là hôn nhân hợp pháp. Theo ông Á bà H xác nhận: Sau khi cưới vợ chống sinh sống tại quê Thanh Hóa được khoảng 6 tháng thì bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp nên tự sống ly thân đến nay. Nay ông Á yêu cầu ly hôn bà H đồng ý nhưng do các bên đương sự có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt thì không thể ghi nhận thuận tình ly hôn. Xét thấy, hôn nhân của 2 người lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông Á yêu cầu ly hôn có cơ sở, xét chấp nhận.

Xét về con chung: Ông Á bà H các nhận không có nên không đặt ra xem xét.

Tài sản chung và nợ chung: Ông Á bà H không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 19, Điều 56. Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Bá Á đối với bà Nguyễn Thị H.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Bá Á được ly hôn bà Nguyễn Thị H.

- Về con chung: Không có.

- Về tài sản chung và nợ chung: Ông Á bà H không yêu cầu Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Nguyễn Bá Á nộp 300.000(Ba trăm ngàn) đồng nhưng được trừ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002096 ngày 17-10-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Điền. Ông Á đã nộp xong án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt quyền kháng cáo bản án 15 ngày tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ