vanban.org

Bản án 04/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị L đối với anh Bùi Văn H về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" cụ thể:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị L được ly hôn anh Bùi Văn H. Về con chung: Giao con chung là Bùi Hoàng Hải, sinh ngày 20/9/2013 cho anh H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục từ tháng 01/2024 trở đi cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lành Hành"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị L đối với anh Bùi Văn H về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" cụ thể:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC SƠN
TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26-01-2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN- TỈNH HÒA BÌNH

- TH phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Lê Thị Hồng.

Hội Thẩm Nhân Dân: ông Bùi Văn Tấn; ông Bùi Văn Quyết

- Thư ký phiên toà: ông Bùi Văn Hường- Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn - tỉnh Hoà Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: bà Bùi Thị Phượng- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hoà Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 216/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2023 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con". Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/12/2023 và Quyết định hoãn phiên toà số: 04/QĐST-HNGĐ ngày 11/01/2024 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị L, sinh năm 1989. Nơi cư trú: xóm Đồi, xã Vũ Bình, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình. Vắng mặt;

- Bị đơn: anh Bùi Văn H, sinh năm 1983. Nơi cư trú: xóm Đồi, xã Vũ Bình, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn ly hôn và các lời khai của mình, nguyên đơn chị Bùi Thị L trình bày:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn H kết hôn với nhau tháng 12 năm 2009 trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã Bình Chân (nay là xã Vũ Bình) huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình. Quá trình chung sống, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, xung đột, cuộc sống chung luôn căng thẳng, nặng nề không có hạnh phúc, không còn tình cảm với nhau. Hiện vợ chồng sống ly thân đã lâu không quan tâm đến nhau nên chị L xin ly hôn.

2. Về con chung: chị L và anh H có 01 con chung là Bùi Hoàng Hải, sinh ngày 20/9/2013. Hiện cháu Hải đang ở với bố, chị L đi làm ăn xa nên khi ly hôn chị L đề nghị giao cháu Hải cho anh H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục để tạo điều kiện cho con sinh sống và học tập ổn định.

3. Về tài sản; công nợ chung: chị L khai không có.

Ngoài ra chị L không có yêu cầu gì thêm.

Anh H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, không có quan điểm gửi đến Toà án.

Phát biểu quan điểm tại phiên toà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình công nhận việc chấp H đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, HĐXX và đương sự từ khi thụ lý đến trước khi HĐXX nghị án. Về việc giải quyết vụ án Kiểm sát viên đề nghị như sau:

Về tố tụng: Anh H được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác nhưng không chấp H, phiên tòa đã phải hoãn một lần. Chị L vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, HĐXX tiến H xét xử vắng mặt anh H, chị L là có cơ sở theo qui định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Xác định mâu thuẫn giữa chị L và anh H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L với anh H là phù hợp Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.

Về con chung: Xét yêu cầu của chị L là phù hợp các Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật HN&GĐ năm 2014 nên đề nghị HĐXX chấp nhận.

Về tài sản: công nợ chung: chị L khai nhận không có. Do vậy, đề nghị HĐXX không đề cập giải quyết trong vụ án.

Ngoài ra không ai có ý kiến gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa HĐXX nhận định:

Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Đây là vụ án về việc ly hôn và bị đơn anh Bùi Văn H có nơi cư trú tại xóm Đồi, xã Vũ Bình, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình nên theo qui định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.

- Về việc vắng mặt của chị Bùi Thị L và anh Bùi Văn H: Anh H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; Chị L vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo qui định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến H xét xử vắng mặt anh H, chị L theo thủ tục chung.

. Về quan hệ hôn nhân: Quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án HĐXX xét thấy:

Quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh H là hợp pháp. Cuộc sống chung vợ chồng thực sự có mâu thuẫn do bất đồng về phong cách sống, không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng sống ly thân đã lâu không còn tình cảm và quan tâm đến nhau. Anh H không đến Tòa thể hiện không có thiện chí hòa giải đoàn tụ vợ chồng, từ bỏ quyền trình bày nguyện vọng của anh trước việc chị L xin ly hôn với anh.

Từ những nhận định trên thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh H là phù hợp Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.

. Về con chung: chị L và anh H có 01 con chung là Bùi Hoàng Hải, sinh ngày 20/9/2013, hiện cháu Hải đang ở với bố, chị L đi làm ăn xa nên khi ly hôn chị L đề nghị giao cháu Hải cho anh H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung để tạo điều kiện cho con sinh sống và học tập ổn định.

Về yêu cầu nuôi con: Hội đồng xét xử thấy, cháu Hải còn nhỏ và đang ở với bố, chị L đi làm ăn xa nên không thể trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Dù anh H vắng mặt trong các buổi làm việc của Toà án, không có văn bản gửi đến Toà thể hiện nguyện vọng nuôi con; Toà án xác minh tận địa phương nhưng không lấy được nguyện vọng của anh H và của con nhưng theo thông tin địa phương cung cấp thì cháu Hải đang sống ổn định với bố và được anh H lo cho ăn học chu đáo. Do vậy, xét quyền lợi mọi mặt của con chưa tH niên, điều kiện thực tế và nguyện vọng của đương sự, áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật HN&GĐ năm 2014 thấy cần giao cho anh H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Bùi Hoàng Hải đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn, chị L có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật HN&GĐ năm 2014.

[3.2] Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án, anh H chưa yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy: Nghĩa vụ nuôi con chung là thuộc về cha mẹ; Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân gia đình quy định: “cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Tuy nhiên, anh H chưa yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con và kết quả xác minh tại địa phương cho thấy anh H có đầy đủ điều kiện nuôi con do đó HĐXX chưa xem xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ và phù hợp khoản 2 Điều 82, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật HN&GĐ năm 2014. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.

. Về tài sản; công nợ chung: chị L khai nhận không có nên HĐXX không đề cập giải quyết trong vụ án.

. Về án phí: Chị L phải chịu án phí theo qui định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật HN&GĐ năm 2014; Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị L đối với anh Bùi Văn H về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" cụ thể:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị L được ly hôn anh Bùi Văn H.

2. Về con chung: Giao con chung là Bùi Hoàng Hải, sinh ngày 20/9/2013 cho anh H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục từ tháng 01/2024 trở đi cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: anh H chưa yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn pháp luật vẫn bảo hộ các quyền của cha mẹ với con chưa tH niên (quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở; quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con). Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Chị L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002151 ngày 09/11/2023 tại Chi cục Thi H án dân sự huyện Lạc Sơn, nay chị L không phải nộp án phí nữa.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai theo qui định.

5. Hướng dẫn thi H án: Trường hợp bản án, quyết định được thi H theo quy định tại Điều 2 Luật thi H án dân sự thì người được thi H án dân sự, người phải thi H án dân sự có quyền thỏa thuận thi H án, quyền yêu cầu thi H án, tự nguyện thi H án hoặc bị cưỡng chế thi H án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi H án dân sự. Thời hiệu thi H án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi H án dân sự.

Cỡ chữ