vanban.org

Bản án 04/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Anh Võ Ngọc H được ly hôn chị Lê Thị Thanh H.

Anh Võ Ngọc H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Anh H đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0013249 ngày 08/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Th, tỉnh Hà Tĩnh. Anh Võ Ngọc H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 23/01… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Hoàng xin ly hôn chị hải"
  • Tòa quyết gì? Anh Võ Ngọc H được ly hôn chị Lê Thị Thanh H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC THỌ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23/01/2024
“Về tranh chấp Hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ - TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Nghị.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Xuân Toàn và ông Lê Như Long.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ.

Ngày 23 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Th, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp “Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án số: 02/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Võ Ngọc H, sinh năm: 1983, địa chỉ: Thôn Châu L, xã Tùng Ả, huyện Đức Th, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

- Bị đơn: Chị Lê Thị Thanh H, sinh năm: 1984, Nơi ĐKNKTT: Thôn Châu L, xã Tùng Ả, huyện Đức Th, tỉnh Hà Tĩnh; nơi sinh sống hiện nay: Số 49 đường Trần Quý C, khu phố Đông T, phường Dĩ A, Thành phố Dĩ A, tỉnh Bình Dương; địa chỉ làm việc: Trường mầm non Họa M, số 39 đường số 5, khu phố Thống Nh 1, Thành phố Dĩ A, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, văn bản ghi lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn anh Võ Ngọc H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Võ Ngọc H kết hôn với chị Lê Thị Thanh H trên cơ sở tình yêu tự nguyện, không bị ai lừa dối hay ép buộc, có đăng ký kết hôn vào ngày 15/02/2011 tại UBND xã Tùng Ả, huyện Đức Th, tỉnh Hà Tĩnh. Sau kết hôn vợ chồng vào sinh sống và làm việc tại Thành phố Dĩ A, tỉnh Bình D. Vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2021 do dịch bệnh Covid nên công việc làm ăn không được thuận lợi vợ chồng bàn bạc với nhau trở về quê thôn Châu L, xã Tùng Ả, huyện Đức Th, tỉnh Hà Tĩnh để sinh sống và làm ăn nhưng vợ chồng không thống nhất được với nhau nên tháng 5 năm 2022 một mình anh Võ Ngọc H trở về quê để làm ăn và sinh sống, còn chị Lê Thị Thanh H vẫn ở lại Thành phố Dĩ A, tỉnh Bình Dương tiếp tục làm việc. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến tháng 5 năm 2022 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến quan điểm, lối sống không hợp nhau, mâu thuẫn càng ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2022 cho đến nay. Hiện nay anh Võ Ngọc H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nữa nên anh Võ Ngọc H yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lê Thị Thanh H.

- Về con chung và cấp dưỡng: Vợ chồng chưa có con chung nên anh Võ Ngọc H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản và khoản nợ chung: Anh Võ Ngọc H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Tại phiên tòa bị đơn chị Lê Thị Thanh H có đơn xin xét xử vắng mặt, nhưng theo các văn bản ghi ngày 19/12/2023 và ngày 18/12/2023 chị Lê Thị Thanh H đã gửi cho Tòa án trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thanh H cơ bản thống nhất như lời trình bày của anh Võ Ngọc H về quá trình tìm hiểu, kết hôn, chung sống, mâu thuẫn và nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay, chị H xác định vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn không thể hàn gắn, vợ chồng không còn sống chung với nhau nữa, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng không thể đoàn tụ được nên chị Lê Thị Thanh H đồng ý ly hôn với anh Võ Ngọc H.

- Về con chung và cấp dưỡng: Vợ chồng chưa có con chung nên chị Lê Thị Thanh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản và khoản nợ chung: Chị Lê Thị Thanh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu có tại hồ sơ cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp về “Hôn nhân và gia đình” quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữa nguyên đơn anh Võ Ngọc H và bị đơn chị Lê Thị Thanh H đều có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Châu L, xã Tùng Ả, huyện Đức Th, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Th, tỉnh Hà Tĩnh.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn chị Lê Thị Thanh H và triệu tập chị H đến Tòa án để làm việc. Tuy nhiên, do bận công việc ở xa chị H không trực tiếp tham gia các buổi làm việc tại Tòa án nên chị H có gửi văn bản trình bày ý kiến để Tòa án xem xét. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn chị Lê Thị Thanh H có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn chị Lê Thị Thanh H theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Anh Võ Ngọc H kết hôn với chị Lê Thị Thanh H trên cơ sở tình yêu tự nguyện, không bị ai lừa dối hay ép buộc, có đăng ký kết hôn vào ngày 15/02/2011 tại UBND xã Tùng Ả, huyện Đức Th, tỉnh Hà Tĩnh. Điều đó phù hợp với Trích lục kết hôn của anh H và chị H do UBND xã Tùng Ả cấp và anh H giao nộp tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng bất đồng quan điểm dẫn đến lối sống không hợp nhau, mâu thuẫn càng ngày càng trầm trọng. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2022 cho đến nay.

Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án chị Lê Thị Thanh H có đơn đề nghị không tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải thể hiện chị H không quan tâm đến việc có cần tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân của vợ chồng hay không. Điều đó chứng tỏ vợ chồng chung sống với nhau không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 xử cho anh Võ Ngọc H được ly hôn với chị Lê Thị Thanh H.

Về con chung và cấp dưỡng: Các đương sự đều thống nhất trình bày vợ chồng chưa có con chung không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Về tài sản và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Anh Võ Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Anh Võ Ngọc H và chị Lê Thị Thanh H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Khoản 1 Điều 28, Khoản 4 Điều 147, Điểm b Khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân gia đình; Điểm b Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 6, Điểm a Khoản 1 Điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

1. Anh Võ Ngọc H được ly hôn chị Lê Thị Thanh H.

2. Anh Võ Ngọc H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Anh H đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0013249 ngày 08/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Th, tỉnh Hà Tĩnh.

3. Anh Võ Ngọc H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 23/01/2024. Chị Lê Thị Thanh H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ