vanban.org

Bản án 04/2024/DS-ST — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND TX. Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 15/01/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Phước T****.

Giao cho ông Huỳnh Phước T**** được quyền nhận thừa kế thửa đất số 71, tờ bản đồ số 42, diện tích thực đo là 683,1m2 loại đất trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp Đông Lợi, xã Đông Bình, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Ông Huỳnh Phước T**** được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng căn nhà và tài sản gắn liề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Tâm - Liêm"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Phước T****.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BÌNH MINH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/DS-ST
Ngày: 15 – 01 – 2024
V/v tranh chấp chia thừa kế tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc T****

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Sơn M****

2. Ông Lương Phi H****

- Thư ký phiên tòa: Ông Ứng Văn T**** – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn K**** – Kiểm sát viên

Trong các ngày 10 và 15 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp chia thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2023/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 224/2023/QĐST-DS, ngày 15 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Huỳnh Phước T****, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Tổ 24, ấp Đông Lợi, xã Đông Bình, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông Huỳnh Phước T****: Bà Phạm Diễm T****, sinh năm 1980. Địa chỉ: Khóm 4, phường Thành Phước, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 25/02/2023). Có mặt.

Bị đơn: Bà Huỳnh Thị L****, sinh năm 1968

Địa chỉ: Tổ 10, khóm Đông Thuận, phường Đông Thuận, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T****, sinh năm 1938. Địa chỉ: Tổ 24, ấp Đông Lợi, xã Đông Bình, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long (chết ngày 25/02/2023). Vắng mặt.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị T****:

1. Huỳnh Văn A****, sinh năm 1964. Địa chỉ: xã Đông Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

2. Bà Huỳnh Thị P****, sinh năm 1964. Địa chỉ: ấp Đông Lợi, xã Đông Bình, thị xã Bình Minh. Vắng mặt.

3. Ông Huỳnh C****, sinh năm 1974. Địa chỉ: khóm Đông Thuận, phường Đông Thuận, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.

4. Bà Huỳnh Thị Phương X****, sinh năm 1966. Địa chỉ: Tổ 10, khóm Đông Thuận, phường Đông Thuận, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.

5. Ông Huỳnh Phước T****, sinh năm 1977. Địa chỉ: Tổ 24, ấp Đông Lợi, xã Đông Bình, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.

6. Bà Huỳnh Thị L****, sinh năm 1968. Địa chỉ: Tổ 10, khóm Đông Thuận, phường Đông Thuận, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện ngày 08/3/2023 và qua quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Huỳnh Phước T**** có bà Phạm Diễm T**** làm đại diện theo ủy quyền trình bày: Cha mẹ ông Huỳnh Phước T**** là ông Huỳnh Văn G**** (chết năm 2006) và bà Nguyễn Thị T**** (chết năm 2023) gồm có tất cả có 06 người con gồm: Huỳnh Văn A****, Huỳnh Thị P****, Huỳnh Phước Đ****, Huỳnh Phước T****, Huỳnh Thị L**** và Huỳnh Thị Phương X****.

Khi cha ông T**** qua đời có để lại thửa đất số 71, tờ bản đồ số 42, diện tích là 685,8m2 loại đất trồng lúa nước, đất tọa lạc tại ấp Đông Lợi, xã Đông Bình, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, do ông Huỳnh Văn G**** đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hiện thửa đất số 71, tờ bản đồ số 42, diện tích là 685,8m2 có 1 căn nhà cấp 4, nhà mái tol, nền gạch men, vách tường và 4 ngôi mộ của ông bà. Căn nhà (đất) do ông Huỳnh Phước T**** canh tác quản lý sử dụng.

Sau khi cha ông T**** qua đời không có để lại di chúc, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bị thất lạc. Nên vào ngày 28/3/2022 mẹ ông T**** là bà Nguyễn Thị T**** có yêu cầu đo đạc, để làm thủ tục thừa kế và cấp giấy, trong quá trình làm thủ tục thì chị ông T**** là bà Huỳnh Thị L**** không đồng ý ký tên nên không thể làm thủ tục thừa kế, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được.

Hiện nay mẹ ông T**** là bà T**** đã mất năm 2023, ông T**** là con trai út trong nhà, tất cả các anh em đều đồng ý cho ông T**** kê khai thừa kế, chỉ riêng bà Huỳnh Thị L**** không đồng ý.

Nay ông T**** yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xem xét và giải quyết như sau: yêu cầu được công nhận hiện vật thừa kế di sản thửa đất số 71, tờ bản đồ số 42, diện tích là 685,8m2 loại đất trồng lúa nước do ông Huỳnh Văn G**** đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất tọa lạc tại ấp Đông Lợi, xã Đông Bình, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, có 1 căn nhà cấp 4, nhà mái tol, nền gạch men, vách tường và 4 ngôi mộ ông bà.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Ông Huỳnh Phước T**** có bà Phạm Diễm T**** đại diện theo ủy quyền trình bày: ông T**** yêu cầu chia thừa kế di sản là thửa đất số 71, tờ bản đồ số 42, diện tích thực đo là 683.1m2 loại đất trồng lúa nước, do ông Huỳnh Văn G**** đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bởi đây là di sản thừa kế của cha mẹ ông để lại, các anh chị em của ông như: Huỳnh Văn A****, Huỳnh Thị P****, Huỳnh Phước Đ**** và Huỳnh Thị Phương X**** đều đồng ý chia và dành phần được hưởng cho ông T****. Riêng bà Huỳnh Thị L**** là không đồng ý ký tên từ chối nhận thừa kế và cũng không phối hợp làm việc, nhưng ông T**** vẫn đồng ý chia cho bà L**** một phần di sản.

* Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ theo quy định của pháp luật, những người tham gia tố tụng đúng thành phần và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.

- Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu của ông Huỳnh Phước T**** là có căn cứ để chấp nhận. Bởi lẽ, thửa đất số 71, tờ bản đồ số 42, diện tích 685,8m2, loại đất trồng lúa nước tọa lạc ấp Đông Lợi, xã Đông Bình, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long được xác định là di sản thừa kế do cụ G**** và cụ Trâm. cụ G**** và cụ Trâm chết không để lại di chúc nên di sản thừa kế được chia theo pháp luật. cụ G**** và cụ Trâm có tất cả 06 người con, do đó di sản thừa kế sẽ được chia thành 07 phần bằng nhau, tuy nhiên ông T**** từ trước đến nay là người quản lý thửa đất số 71 và căn nhà cấp 4 gắn liền trên đất và ông T**** cũng là người trực tiếp thực hiện việc thờ cúng cụ G**** và cụ Trâm nên chia cho ông T**** được hưởng 02 phần do có công gìn giữ tôn tạo đối với di sản thừa kế. Ngoài ra 04 đồng thừa kế của ông T**** là ông A, ông Đ****, bà P**** và bà X**** cũng thống nhất để lại phần di sản thừa kế cho ông T**** được hưởng toàn bộ để thực hiện việc thờ cúng ông bà. Vì vậy nên chia cho ông T**** được hưởng căn nhà cấp 4 để thực hiện việc thờ cúng, ông T**** được hưởng 06 kỷ phần gồm 02 kỷ phần của ông T**** và 04 kỷ phần do 04 đồng thừa kế là ông A, ông Đ****, bà P**** và bà X**** thống nhất cho ông T**** hưởng đối với thửa đất số 71, bà L**** được hưởng 01 kỷ phần do đó giao thửa đất số 71, tờ bản đồ số 42, diện tích 685,8m2, loại đất trồng lúa nước tọa lạc ấp Đông Lợi, xã Đông Bình, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long do cụ G**** đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên đất có căn nhà cấp 4, mái lợp tol, nền lát gạch men, vách tường cho ông T**** được quyền quản lý sử dụng. ông T**** có quyền đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký kê khai quyền sử dụng đất theo quy định (Kèm theo kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 27/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã Bình Minh). Buộc ông T**** trả cho bà L**** giá trị 01 kỷ phần là 1/7 giá trị thửa đất số 71 căn nhà cấp 4 gắn liền trên đất.

Theo Biên bản định giá ngày 26/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Bình Minh thì thửa đất số 71 tờ bản đồ số 42, diện tích 685,8m2, loại đất trồng lúa nước tọa lạc ấp Đông Lợi, xã Đông Bình, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long và căn nhà cấp 4 gắn liền trên thửa đất có giá trị là 268.515.000đồng.

Căn cứ 147, 157, 165 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 609, 610, 612, 613, 616, 624, 625, 631, 660 BLDS năm 2015; Điều 166, 167, 179 Luật đất đai năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Phước T****.

Công nhận cho ông Huỳnh Phước T**** được quyền sử dụng thửa đất số 71, tờ bản đồ số 42, loại đất trồng lúa, diện tích 683,1m2, tọa lạc tại ấp Đông Lợi, xã Đông Bình, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Ông Huỳnh Phước T**** được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng căn nhà và tài sản gắn liền trên thửa đất số 71. ông T**** có quyền đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký kê khai quyền sử dụng đất theo quy định (Kèm theo kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 27/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã Bình Minh).

Buộc ông Huỳnh Phước T**** trả cho bà Huỳnh Thị L**** số tiền 38.356.000 đồng.

- Về chi phí khảo sát, đo đạc và định giá: Tổng số tiền 4.730.000 đồng buộc ông T**** chịu toàn bộ, ông T**** đã nộp xong nên không phải nộp tiếp.

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

+ Buộc ông Huỳnh Phước T**** nộp số tiền: 11.508.000 đồng.

+ Buộc bà Huỳnh Thị L**** nộp: 1.918.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả trông luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về trình tự, thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nhưng Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần hai nhưng các đương sự nêu trên vẫn không có ý kiến và vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ theo khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì việc vắng mặt của các đương sự nêu trên là không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

Về nội dung vụ án:

Xét việc ông Huỳnh Phước T**** yêu cầu chia thừa kế di sản là thửa đất 71, tờ bản đồ số 42, diện tích thực đo là 683,1m2 loại đất trồng lúa nước, do ông Huỳnh Văn G**** đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng theo quy. Bởi đây là di sản do ông Huỳnh Văn G**** chết để lại định và ngoài di sản này thì các đương sự trong vụ án không còn yêu cầu chia di sản thừa kế nào thêm nữa.

Xét ông Huỳnh Văn G**** và bà Nguyễn Thị T**** có 06 người con gồm: Huỳnh Văn A****, Huỳnh Thị P****, Huỳnh Phước Đ**** và Huỳnh Thị Phương X**** và thời hiệu yêu cầu chia thừa kế vẫn còn, nên việc ông T**** khởi kiện là đúng thời hạn pháp luật quy định.

Xét việc ông Huỳnh Văn G**** và bà Nguyễn Thị T**** chết không có để lại di chúc. Các đồng thừa kế đều xác định thửa đất số 71 nêu trên là di sản do ông Gòn, bà T**** chết để lại và yêu cầu chia thừa kế.

Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án thì bà Huỳnh Thị L**** không phối hợp và cũng không có văn bản nào trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông T****. Từ đó cho thấy, bà Huỳnh Thị L**** đã không thực hiện nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định chia thừa kế theo quy định của pháp luật.

Tại Bản tự khai ý kiến ngày 20/4/2023 của ông Huỳnh Văn A****, bà Huỳnh Thị P****, ông Huỳnh Phước Đ**** và bà Huỳnh Thị Phương X**** trình bày, các ông bà đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông T**** và đồng ý để phần di sản được hưởng cho ông T****, nên Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến này để làm căn cứ chia thừa kế.

Diện tích thực đo thửa đất số 71 là 683.1m2 và hiện tại trên đất có một căn nhà, nên không thể phân chia theo hiện vật được, nên Hội đồng xét xử phân chia theo theo pháp luật như sau:

Do ông Huỳnh Phước T**** là con út trong nhà và hiện tại đang quản lý phần đất thử số 71 và căn nhà kiên cố trên đất, nên giao cho ông Huỳnh Phước T**** được quyền sử dụng thửa đất số 71, tờ bản đồ số 42, diện tích thực đo là 683,1m2 loại đất trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp Đông Lợi, xã Đông Bình, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long và căn nhà gắn liền trên đất.

ông T**** được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký thừa kế theo quy định của pháp luật.

Theo Biên bản định giá tài sản ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh:

* Về phần đất: Thửa đất số 71, tờ bản đồ số 42, diện tích thực đo là 683,1m2, loại đất lúa, có đơn giá 147.000 đồng/m2. Tương đương với số tiền: 100.415.700 đồng.

* Về phần nhà:

- Căn nhà chính có giá: 145.855.507 đồng.

- Nhà tiền chế có giá: 7.175.400 đồng.

- Mái che tiền chế trước nhà chính: 15.068.340 đồng.

Tổng giá trị di sản gồm đất và nhà có giá làm tròn: 268.515.000 đồng.

Tuy nhiên, xét vào công sức đóng góp, tôn tạo di sản và phụng thờ hương quả và ông Huỳnh Phước T**** là con út trong gia đình, nên phải được hưởng phần nhiều hơn các đồng thừa kế khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử phân chia di sản ra làm 07 phần bằng nhau, giá trị tương đương với số tiền làm tròn: 38.356.000 đồng, chia cho ông Phước T**** được hưởng 02 phần. Do các đồng thừa kế: Huỳnh Văn A****, Huỳnh Thị P****, Huỳnh Phước Đ**** và Huỳnh Thị Phương X**** có ý kiến giao phần di sản được hưởng lại cho ông T****, nên Hội đồng xét xử giao cho ông T**** được hưởng 06 phần.

Bà Huỳnh Thị L**** không thực hiện nghĩa vụ chứng minh và cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì nên chỉ được hưởng một phần trong khối di sản. Vì vậy, buộc ông T**** phải trả cho bà L**** một phần di sản tương đương với số tiền làm tròn 38.356.000 đồng.

Về chi phí khảo sát, đo đạc và định giá:

Chi phí khảo sát đo đạc tổng cộng là 4.730.000 đồng. Buộc ông T**** phải nộp toàn bộ, ông T**** đã nộp xong.

Về án phí sơ thẩm:

- Buộc ông T**** nộp số tiền làm tròn 11.508.000 đồng

- Buộc bà Huỳnh Thị L**** nộp số tiền làm tròn 1.918.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 5, 35, 39, 92, 147, 165, 166, khoản 2 Điều 227, 244, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự,

- Các Điều 609, 610, 612, 613, 616, 623, 624, 625, 631, 660 của Bộ luật dân sự năm 2015,

- Các Điều 166, 167 và 179 Luật đất đai,

- Khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Phước T****.

Giao cho ông Huỳnh Phước T**** được quyền nhận thừa kế thửa đất số 71, tờ bản đồ số 42, diện tích thực đo là 683,1m2 loại đất trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp Đông Lợi, xã Đông Bình, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Ông Huỳnh Phước T**** được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng căn nhà và tài sản gắn liền trên thửa đất số 71 nêu trên.

(Kèm theo Kết quả đo đạc hiện trạng khu đất ngày 27/9/2023)

Ông Huỳnh Phước T**** được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để ký thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Buộc ông Huỳnh Phước T**** phải trả giá trị di sản thừa kế cho bà Huỳnh Thị L**** số tiền làm tròn 38.356.000 đồng (ba mươi tám triệu, ba trăm năm mươi sáu nghìn đồng).

2. Về chi phí khảo sát, đo đạc và định giá: Chi phí khảo sát, đo đạc và định giá tổng cộng là 4.730.000 đồng. Buộc ông Huỳnh Phước T**** nộp toàn bộ, ông T**** đã nộp xong.

3. Về án phí sơ thẩm:

- Buộc ông Huỳnh Phước T**** nộp số tiền làm tròn 11.508.000 đồng (mười một triệu, năm trăm lẻ tám nghìn đồng).

- Buộc bà Huỳnh Thị L**** nộp số tiền làm tròn 1.918.000 đồng (một triệu, chín trăm mười tám nghìn đồng).

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các đương sự biết, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ