- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Tranh chấp giữa ông V và 4 bị đơn"
- Tòa quyết gì? hông chấp nh n yêu c u kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Văn V.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2024/DS-PT Ngày 05-01-2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Sỹ Trứ
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Tài
Ông Nguyễn Trung Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thảo Vy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Tr n Th Phư娨c– i m sát viên.
Trong các ngày 28 tháng 12 năm 2023 và ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 423/2023/TLPT-DS ngày 01 tháng 11 năm 2023 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2023/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện D u Tiếng, tỉnh Bình Dương b kháng cáo.
Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 405/2023/QĐ-PT ngày 10 tháng 11 năm 2023 và Quyết đ nh hoãn phiên tòa số 544/2023/QĐ-PT ngày 04/12/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn V, sinh năm 1955; đ a chỉ: ấp A, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, có mặt.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Nguyễn Viết B, sinh năm 1966; đ a chỉ: ấp S, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2.2. Ông Lê Văn T, sinh năm 1958; đ a chỉ: ấp Y, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2.3. Ông Lê Văn N, sinh năm 1964; đ a chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2.4. Bà Nguyễn Th Q, sinh năm 1966; đ a chỉ: ấp S, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Lê Th H, sinh năm 1960; đ a chỉ: ấp S, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương (vợ ông Lê Văn T), có đơn xin xét xử vắng mặt.
3.2. Bà Lê Th H1, sinh năm 1967; đ a chỉ: ấp S, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương (vợ ông Nguyễn Viết B), có đơn xin xét xử vắng mặt.
4. Người làm chứng:
4.1. Ông Bùi Trọng T1, sinh năm 1967; đ a chỉ: ấp S, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
4.2. Bà Nguyễn Th B1, sinh năm 1968; đ a chỉ: ấp B, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
4.3. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1974; đ a chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
4.4. Bà Lê Th T2, sinh năm 1959; đ a chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
4.5. Bà Lê Th L, sinh năm 1957; đ a chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
4.6. Ông Nguyễn Văn T3; đ a chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Lê Văn V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm:
- Theo đơn khởi kiện ngày 13/5/2022, quá trình tố tụng giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Văn V trình bày:
Ông V đứng tên quyền sử dụng đất có diện tích 47.417m2 thuộc thửa đất số 01, tờ bản đồ số 45 tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương theo iấy chứng nh n quyền sử dụng đất số H 01117/QĐ-RB ngày 26/12/2007 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp đứng tên ông Lê Văn V.
Trư娨c đây, đất của ông V có 01 mặt tiếp giáp v娨i đất của Ban Q1 và 03 mặt tiếp giáp v娨i con đường đi xung quanh khu đất. Còn đường đi 03 mặt hư娨ng giáp ranh v娨i các đương sự tranh chấp có chiều ngang là 03m, chiều dài con đường khoảng 500m. Con đường này là do ông V thống nhất v娨i các chủ sử dụng đất liền kề trư娨c đây đ làm đường đi lên đỉnh núi A - T (thuộc phạm vi Núi C u D). Con đường hình thành từ năm 1995, trư娨c đây những hộ giáp ranh xung quanh gồm: Bà Nguyễn Th B1, ông Nguyễn Văn D và bà Lương Th T4. Sau này, các ông D, bà B1 và bà T4 chuy n nhượng các khu đất đó cho các ông B, ông T, ông N và bà Q. Sau khi có đất, ông B, ông T, ông N và bà Q tự ý móc mương lấn chiếm hết ph n đất làm đường đi trư娨c đây đ làm quyền sử dụng đất của riêng mỗi nhà.
Theo đơn khởi kiện ngày 13/5/2022 cũng như tại phiên tòa, ông V khởi kiện yêu c u giao trả lại ph n đất lấn chiếm có diện tích 1.155,6m2, trong đó cụ th : Ông B và bà H1 giao trả ph n đất có diện tích 207m2 thuộc thửa 2329; ông T và bà H giao trả ph n đất có diện tích 212,8m2 thuộc thửa 301; ông N giao trả ph n đất có diện tích 421,6m2 thuộc thửa 2335 và bà Q giao trả ph n đất có diện tích 314,2m2 thuộc thửa đất chưa xác đ nh do chưa được cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất (các ph n ký hiệu A, B, C, D trên Mảnh trích lục đ a chính có đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số 1657-2022 ngày 19/10/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D) n m tiếp giáp v娨i thửa đất số 01, tờ bản đồ số 45, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương của ông V đ làm lối đi chung.
- Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Viết B và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H1 trình bày:
Ông B và bà H1 là vợ chồng và là chủ sử dụng hợp pháp quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 2329, tờ bản đồ số 40, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương theo iấy chứng nh n quyền sử dụng đất số vào sổ CH 01308 ngày 10/9/2015 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp đứng tên ông Nguyễn Viết B. Nguồn gốc quyền sử dụng đất là do ông B và bà H1 nh n chuy n nhượng của ông Nguyễn Văn P vào năm 2000. Sau đó, ông B và bà H1 sử dụng đất cho đến năm 2015 m娨i làm thủ tục cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất theo quy đ nh. hi thực hiện việc cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất thì ông V có ký xác nh n ranh gi娨i theo đúng quy đ nh của pháp lu t.
Ban đ u khi m娨i nh n chuy n nhượng quyền sử dụng đất thì khu đất không có đường đi vào đất nên ông B và bà H1 có đi nhờ băng qua khu đất của nhà ông V, khi đi băng qua đất ông V là đường chân, lối mòn nhỏ chứ không hình thành b ng đường đi cụ th . Sau đó thấy việc đi lại khó khăn, các gia đình gồm ông B, ông T5, ông N, ông L1 và bà Q thống nhất chừa ra một ph n đất đ dùng làm lối đi chung và hiện nay lối đi này đã trở thành đường giao thông nông thôn.
Năm 2019, ông V có kiện các gia đình ông B, ông T, ông N và bà Q ra Ủy ban nhân dân xã Đ và kết quả là Hội đồng hòa giải Ủy ban nhân dân xã Đ xác đ nh xung quanh đất ông V không có đường đi, khi đó các bên đều thống nhất xác đ nh ranh đất là hàng cây tràm của đất nhà ông V và kết quả hòa giải thành. Nay, không biết vì lý do gì mà ông V lại khởi kiện nên ông B và bà H1 không đồng ý v娨i yêu c u của ông V.
- Bị đơn ông Lê Văn T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H trình bày:
Ông T và bà H là vợ chồng hợp pháp và là chủ sử dụng quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 301, tờ bản đồ số 40, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương theo iấy chứng nh n quyền sử dụng đất số vào sổ CS 05441 ngày 05/01/2022 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B đứng tên ông T và bà H. Nguồn gốc quyền sử dụng đất: Năm 1996, ông T và bà H cùng v娨i bà Nguyễn Th T6 và bà Lê Th C nh n chuy n nhượng của ông Lê Đình V1 v娨i diện tích chung khoảng 06ha, sau đó các gia đình chia nhỏ ra đ sử dụng. Sau đó, ông T và bà H có làm thủ tục cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất và đến năm 2022 làm thủ tục cấp lại giấy chứng nh n quyền sử dụng đất theo quy đ nh. hi thực hiện việc cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất thì ông V có ký xác nh n ranh gi娨i theo đúng quy đ nh của pháp lu t.
Ban đ u khi m娨i nh n chuy n nhượng quyền sử dụng đất thì khu đất không có đường đi nên ông T và bà H có đi nhờ băng qua khu đất của nhà ông V, khi đi băng qua đất ông V là đường chân, lối mòn nhỏ chứ không hình thành b ng đường đi cụ th . Sau đó thấy việc đi lại khó khăn, các gia đình gồm ông B, ông T, ông N, ông L1 và bà Q thống nhất chừa ra một ph n đất đ dùng làm lối đi chung và hiện nay lối đi này trở thành đường giao thông nông thôn.
Năm 2019, ông V có khởi kiện các gia đình ông B, ông T, ông N và bà Q ra Ủy ban nhân dân xã Đ và kết quả là Hội đồng hòa giải xã Đ xác đ nh xung quanh đất ông V không có đường đi, khi đó các bên đều thống nhất xác đ nh ranh đất là hàng cây tràm của đất nhà ông V và kết quả hòa giải thành. Nay, không biết vì lý do gì mà ông V lại khởi kiện nên ông T và bà H không chấp nh n.
- Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Văn N trình bày:
Ông N là chủ của quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 2335, tờ bản đồ số 40, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương theo iấy chứng nh n quyền sử dụng đất số vào sổ CH 01307 ngày 10/9/2015 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp đứng tên ông Lê Văn N. Nguồn gốc quyền sử dụng đất: Năm 2005, ông N nh n chuy n nhượng của bà Lương Th T4, khi nh n chuy n nhượng thì trên đất của bà T4 có căn nhà, sau này căn nhà xuống cấp nên ông N có xây dựng nhà m娨i cũng trên nền móng nhà cũ của nhà bà T4. Sau đó đến năm 2015, ông N có làm thủ tục cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất theo quy đ nh. hi thực hiện việc cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất thì ông V có ký xác nh n ranh gi娨i theo đúng quy đ nh của pháp lu t.
Ban đ u khi m娨i nh n chuy n nhượng quyền sử dụng đất thì khu đất không có đường đi nên ông N có đi nhờ băng qua khu đất của nhà ông V, khi đi băng qua đất ông V là đường chân, lối mòn nhỏ chứ không hình thành b ng đường đi cụ th . Sau đó thấy việc đi lại khó khăn, các gia đình gồm ông B, ông T, ông N, ông L1 và bà Q thống nhất chừa ra một ph n đất đ dùng làm lối đi chung và hiện nay lối đi này trở thành đường giao thông nông thôn.
Năm 2019, ông V có kiện các gia đình ông B, ông T, ông N và bà Q ra RBND xã Đ và kết quả là Hội đồng hòa giải RBND xã Đ xác đ nh xung quanh đất ông V không có đường đi, khi đó các bên đều thống nhất xác đ nh ranh đất là hàng cây tràm của đất nhà ông V và kết quả hòa giải thành. Nay, không biết vì lý do gì mà ông V lại khởi kiện nên ông N không đồng ý, không chấp nh n.
- Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Q trình bày:
Bà Q là chủ của quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 2330, tờ bản đồ số 40, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương theo iấy chứng nh n quyền sử dụng đất số vào sổ CH 01681 ngày 30/3/2018 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp đứng tên bà Nguyễn Th Q. Nguồn gốc quyền sử dụng đất: Ngày 20/10/2001, bà Q cùng chồng là ông Lê Văn T7 nh n chuy n nhượng của ông Nguyễn Tấn D1 và bà Nguyễn Th B1. Sau đó bà Q và ông T7 có làm thủ tục cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất và được cấp iấy chứng nh n quyền sử dụng đất số vào sổ 00197 QSDĐ/QĐ-RB ngày 13/11/2001 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp đứng tên hộ ông Lê Văn T7. Sau đó, ông T7 chết nên bà Q là thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất theo quy đ nh. hi thực hiện việc cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất thì ông V có ký xác nh n ranh gi娨i theo đúng quy đ nh của pháp lu t. Ban đ u khi m娨i nh n chuy n nhượng quyền sử dụng đất thì khu đất không có đường đi nên bà Q có đi nhờ băng qua khu đất của nhà ông V, khi đi băng qua đất ông V là đường chân, lối mòn nhỏ chứ không hình thành b ng đường đi cụ th . Sau đó thấy việc đi lại khó khăn, các gia đình gồm ông B, ông T, ông N, ông L1 và bà Q thống nhất chừa ra một ph n đất đ dùng làm lối đi chung và hiện nay trở thành đường giao thông nông thôn. Năm 2019, ông V có kiện các gia đình ông B, ông T, ông N và bà Q ra Ủy ban nhân dân xã Đ và kết quả là Hội đồng hòa giải Ủy ban nhân dân xã Đ xác đ nh xung quanh đất ông V không có đường đi, khi đó các bên đều thống nhất xác đ nh ranh đất là hàng cây tràm của đất nhà ông V và kết quả hòa giải thành. Nay, không biết vì lý do gì mà ông V lại khởi kiện nên bà Q không đồng ý v娨i yêu c u này.
- Người làm chứng ông Bùi Trọng T1 trình bày: Ông T1 không có quan hệ họ hàng gì đối v娨i các bên đương sự; trư娨c đây ông T1 làm cán bộ đ a chính xã Đ nên có biết về nội dung các bên tranh chấp. Con đường ngay v trí mà ông V tranh chấp v娨i các ông B, ông T, ông N và bà Q trư娨c đây là con đường dân sinh. Trên bản đồ đ a chính và con đường do Nhà nư娨c quản lý là đi từ đường l娨n rồi qua đường giao thông nông thôn và đi đến đ u đất của ông V là hết. Từ đ u đất của ông V đ đi vào đất của ông V là ông V tự làm lối đi đ vào đất của mình; tuy nhiên lối đi vào đất của ông V là ông V mở c p ranh đất v娨i các hộ liền kề. Việc ông V và các hộ dân có thỏa thu n v娨i nhau như thế nào thì ông T1 không biết cụ th nhưng thời đi m đó các hộ dân liền kề có tạo thành lối đi đ băng qua đất của mình. Riêng về đường đi ngay v trí mà hiện nay ông V tranh chấp là không có, không có con đường nào cặp ranh đất như ông V nói mà chỉ có các đường chân đi từ lối đi trong đất của ông V băng qua đất của các hộ dân liền kề thôi. Ngoài ra, thời đi m ông T1 còn làm cán bộ đ a chính xã, ông V và một số hộ dân có yêu c u Ủy ban nhân dân xã Đ mở cho họ một con đường đ đi chung nhưng lúc đó Ủy ban nhân dân xã không đồng ý vì không phù hợp v娨i quy đ nh.
- Người làm chứng bà Lê Thị T2 trình bày: Bà T2 không có quan hệ họ hàng gì đối v娨i các bên đương sự. Bà T2 là người có quyền sử dụng đất n m phía bên trong so v娨i các ph n đất của các bên đương sự. Vào những năm 1985, bà T2 có tiến hành khai phá khu đất, đất của bà T2 n m phía trong tính từ đường l娨n rồi đến đường giao thông nông thôn và đi qua khu đất của các ông N, ông T, ông B hiện nay rồi đến đất của bà T2. Trư娨c đây thì các hộ dân bên ngoài có thỏa thu n chừa ra một ph n đất đ làm đường đi chung, đường đi vào phía sâu bên trong và lên núi. Riêng về hiện trạng con đường ngày xưa cho đến nay như thế nào là bà T2 không biết cụ th vì thời gian đã lâu và hiện nay không còn nên không biết. Bà T2 biết được con đường đó hình thành từ rất lâu nhưng hiện nay không còn nữa.
- Người làm chứng bà Nguyễn Thị B1 trình bày: Bà B1 không có quan hệ họ hàng gì đối v娨i các bên đương sự. Bà B1 trư娨c đây là chủ sử dụng đất và sau này đã chuy n nhượng lại cho bà Q. Trên bản đồ đ a chính và con đường do Nhà nư娨c quản lý là đi từ đường l娨n rồi qua đường giao thông nông thôn và đi đến đ u đất của ông V là hết. Con đường ngay v trí mà ông V tranh chấp v娨i các ông B, ông T, ông N và bà Q trư娨c đây là con đường dân sinh do các hộ dân có đất liên ranh v娨i nhau tự thỏa thu n mở làm đường đi. Từ đ u đất của ông V đ đi lên phía trên và lên núi thì phía ông V thỏa thu n chừa ra 1,5m còn bên bà T4 chừa ra 1,5m, đất phía trên của bà T4 là đất của bà B1 cũng chừa ra 1,5 m đ làm đường đi chung cho các hộ dân. Tuy nhiên, con đường tự mở này không có trên bản đồ cũng như không th hiện trên giấy chứng nh n quyền sử dụng đất của ai hết; con đường này hình thành từ năm 1993 cho đến khoảng năm 2000 hay 2001 là bà B1 chuy n nhượng đất lại cho bà Q và từ đó đến nay bà B1 không có đất ở g n đó nên không biết hiện trạng hiện nay như thế nào.
- Người làm chứng ông Nguyễn Văn Đ trình bày:
Theo biên bản lấy lời khai ngày 08/8/2023, ông Đ xác đ nh: Ông Đ không có quan hệ họ hàng gì đối v娨i các bên đương sự. Ông Đ là con ruột của bà Lương Th T4 (bà T4 đã chết), bà T4 trư娨c đây là chủ sử dụng đất và sau này đã chuy n nhượng lại cho ông N. Con đường ngay v trí mà ông V tranh chấp v娨i các ông B, ông T, ông N và bà Q trư娨c đây là con đường dân sinh do các hộ dân có đất liên ranh v娨i nhau tự thỏa thu n mở làm đường đi. Trên bản đồ đ a chính và con đường do Nhà nư娨c quản lý là đi từ đường l娨n rồi qua đường giao thông nông thôn và đi đến đ u đất của ông V là hết. Từ đ u đất của ông V đ đi lên phía trên và lên núi thì các hộ dân tự thỏa thu n v娨i nhau là chừa lại một ph n đất đ làm đường đi chung cho các hộ dân. Tuy nhiên, con đường tự mở này không có trên bản đồ cũng như không th hiện trên giấy chứng nh n quyền sử dụng đất của ai hết; con đường này hình thành từ năm 1993 cho đến khoảng năm 2000 là ngưng không ai đi nữa. hoảng năm 2000, bà T4 chuy n nhượng một ph n của khu đất giáp ranh v娨i khu đất của ông V cho ông N, khi chuy n nhượng thì trên đất có căn nhà đúng như ông N trình bày. Cùng năm 2000, ông Đ được bà T4 tặng cho một ph n khu đất còn lại. Sau khi có đất, thì ông Đ và ông N có tự thỏa thu n v娨i nhau mỗi bên chừa ra một ph n đất đ làm lối đi và hiện nay lối đi này đã trở thành đường giao thông nông thôn.
- Người làm chứng bà Lê Thị L trình bày: Bà L không có quan hệ họ hàng gì đối v娨i các bên đương sự. Bà L là người có quyền sử dụng đất n m phía bên ngoài so v娨i các ph n đất của các bên đương sự. Vào những năm 1985, bà L có tiến hành khai phá khu đất, đất của bà L n m phía ngoài tính từ đường l娨n rồi đến đường giao thông nông thôn và đi đến đất của các bên tranh chấp. hi khai phá đất thì bà L cũng chừa ra một ph n đất đ làm đường đi chung, những hộ dân phía trong mỗi bên cũng chừa ra một ph n đất đ làm đường đi vào phía sâu bên trong và lên núi. Bà L biết được con đường đó hình thành từ rất lâu nhưng hiện nay không còn nữa. Riêng về hiện trạng con đường ngày xưa cho đến nay như thế nào là bà L không biết cụ th vì thời gian đã lâu và hiện nay không còn nên không biết.
- Người làm chứng ông Nguyễn Văn T3 trình bày: Ngày xưa ông T3 có đo đạc, trong đất không có đường đi mà do thỏa thu n v娨i các chủ đất đ mở đường đi.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2023/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện D u Tiếng, tỉnh Bình Dương, đã quyết đ nh:
hông chấp nh n yêu c u khởi kiện về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất (đường đi)” của ông Lê Văn V đối v娨i các ông Nguyễn Viết B, ông Lê Văn T, ông Lê Văn N, bà Nguyễn Th Q, bà Lê Th H1 và bà Lê Th H về yêu c u giao trả lại ph n đất lấn chiếm có diện tích 1.155,6 m2, trong đó cụ th : Ông B và bà H1 giao trả ph n đất có diện tích 207 m2 thuộc thửa 2329; ông T và bà H giao trả ph n đất có diện tích 212,8 m2 thuộc thửa 301; ông N giao trả ph n đất có diện tích 421,6 m2 thuộc thửa 2335 và bà Q giao trả ph n đất có diện tích 314,2 m2 thuộc thửa đất chưa xác đ nh do chưa được cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất n m tiếp giáp v娨i thửa đất số 01, tờ bản đồ số 45, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương của ông V.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 06/9/2023 nguyên đơn ông Lê Văn V có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu c u Tòa án cấp phúc thẩm chấp nh n yêu c u khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu c u khởi kiện, yêu c u kháng cáo.
Đại diện Viện ki m sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát bi u ý kiến:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy đ nh của Bộ lu t Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện yêu c u mở lối đi chung đã hình thành từ năm 1994 và hiện nay đã b ông Nguyễn Viết B, ông Lê Văn T, ông Lê Văn N, bà Nguyễn Th Q, bà Lê Th H1 và bà Lê Th H lấn chiếm nên yêu c u giao trả lại ph n đất có diện tích 1.155,6 m2 nhưng nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh. iấy chứng nh n quyền sử dụng đất của nguyên đơn được cấp và cấp đổi qua các thời kỳ cũng không th hiện đường đi. Hồ sơ cấp giấy chứng nh n của các b đơn đã được nguyên đơn ký liên ranh và đều th hiện không có lối đi giữa đất các b đơn và đất nguyên đơn. Nguyên đơn ký liên ranh và không có ý kiến phản ánh, khiếu nại. Điều đó chứng tỏ nguyên đơn mặc nhiên thừa nh n quyền sử dụng đất của các b đơn nên đề ngh Hội đồng xét xử không chấp nh n kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, ý kiến của i m sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Nguyên đơn ông Lê Văn V kháng cáo trong thời hạn lu t đ nh nên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương thụ lý theo quy đ nh của pháp lu t.
Các b đơn ông Nguyễn Viết B, ông Lê Văn T, ông Lê Văn N, bà Nguyễn Th Q; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Th H, bà Lê Th H1 có đơn xin xét xử vắng mặt; người làm chứng ông Bùi Trọng T1, bà Nguyễn Th B1, ông Nguyễn Văn Đ1, bà Lê Th T2, bà Lê Th L, ông Nguyễn Văn T3 có đơn xin vắng mặt và đã có lời khai tại cấp sơ thẩm nên căn cứ Điều 296 Bộ lu t Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt họ.
Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn ông Lê Văn V yêu c u các b đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông B, ông T, ông N, bà Q, bà H1 và bà H giao trả lại ph n đất có diện tích 1.155,6m2 hiện nay đang sử dụng n m tiếp giáp v娨i thửa đất số 01, tờ bản đồ số 45, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương của ông V đ làm lối đi chung. Tuy nhiên, tại Biên bản đo đạc, xem xét thẩm đ nh tại chỗ ngày 11/7/2022, quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa sơ thẩm các bên đương sự đều thừa nh n hiện trạng thực tế đ đi vào thửa đất số 01, tờ bản đồ số 45 của gia đình ông V đã có đường giao thông nông thôn tiếp giáp đến khu đất, việc đi lại của ông V không b ảnh hưởng bởi việc có mở hay không mở lối đi như ông V yêu c u. Việc đi lại vào khu đất của các b đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông B, ông T, ông N, bà Q, bà H1 và bà H đã có đường đi khác, đường giao thông nông thôn n m ngay v trí mà ông N và ông Đ mở (có th hiện trên bản đồ đ a chính và giấy chứng nh n quyền sử dụng đất của ông N).
Ông V cho r ng, trư娨c đây xung quanh khu đất của ông, các hộ dân có thỏa thu n chừa lại ph n đất có chiều ngang 03m đ làm đường đi (gia đình ông V chừa 1,5m ngang; các hộ dân bà Nguyễn Th B1, ông Nguyễn Văn D và bà Lương Th T4 chừa 1,5m ngang), tuy nhiên ông V không có tài liệu chứng cứ nào đ chứng minh cho yêu c u của minh. Xét thấy theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án th hiện:
Theo các tài liệu trong hồ sơ cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất cho các b đơn ông B, ông T, ông N, bà Q và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà H1 và bà H thì khi thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất, ông V đều có ký xác nh n liên ranh, các hồ sơ này không th hiện lối đi như ông V trình bày, do đó có căn cứ xác đ nh ông V đã mặc nhiên thừa nh n quyền sử dụng đất của ông B, ông T, ông N, bà Q.
Tại Biên bản đo đạc, xem xét thẩm đ nh tại chỗ ngày 11/7/2022 do Tòa án l p và M trích lục đ a chính có đo đạc chỉnh lý (tranh chấp) số 1657-2022 ngày 19/10/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D thì hiện nay b đơn ông B, ông T, ông N, bà Q và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà H1 và bà H đều sử dụng đất đúng ranh gi娨i được cấp quyền sử dụng.
Công văn 11/TNMT-TC ngày 04/01/2023 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện D và Công văn 51/CNVPĐ ĐĐ-Đ &C CN ngày 10/01/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D xác đ nh việc cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đối v娨i gia đình ông V là cấp chính quy, không qua đo đạc thực tế, không th hiện việc ký liên ranh; còn ngược lại cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đối v娨i ông B, ông T, ông N, bà Q và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà H1 và bà H là có đo đạc thực tế, có ký xác nh n liên ranh của chủ sử dụng đất liền kề.
Công văn 08/RBND- T ngày 01/02/2023 của Ủy ban nhân dân xã Đ xác đ nh: hoảng năm 1995, Nhà nư娨c không có quy hoạch và hiện trạng cũng không có con đường nào tại v trí tiếp giáp hư娨ng Bắc của thửa đất số 01, tờ bản đồ 45 xã Đ (theo bản đồ đ a chính và giấy chứng nh n quyền sử dụng đất của các hộ dân liền kề). Đến thời đi m hiện nay, không có quy hoạch và hiện trạng không có con đường nào tại v trí tiếp giáp hư娨ng Bắc của thửa đất số 01, tờ bản đồ 45 xã Đ (theo bản đồ đ a chính có điều chỉnh năm 2012).
Tại Biên bản hòa giải l n 3 ngày 10/10/2019 của Hội đồng hòa giải xã Đ, ghi nh n kết lu n hòa giải thành là ranh gi娨i thống nhất đ ông V rào hàng rào bao quanh khu đất ngay v trí hàng tràm của gia đình ông V trồng.
Theo Biên bản đo đạc, xem xét thẩm đ nh tại chỗ ngày 11/7/2022 do Tòa án l p thì hiện trạng các bên sử dụng đất, ranh gi娨i được xác đ nh hàng rào là gốc các cây tràm ông V đã cưa nhưng hàng rào bao bọc các gốc tràm như các bên trình bày.
Mặt khác, theo lời khai của những người làm chứng do ông V yêu c u Tòa án làm việc là ông T1, ông Đ, bà B1 đều xác đ nh con theo v trí ông V yêu c u tại thời đi m đó là tự thỏa thu n mở đ làm lối đi chung, không được Nhà nư娨c công nh n và đã ngưng sử dụng vào khoảng năm 2000 (trư娨c thời đi m các b đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất).
Như v y, nguyên đơn ông V yêu c u các b đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông B, ông T, ông N, bà Q, bà H1 và bà H giao trả lại ph n đất có diện tích 1.155,6m2 hiện nay đang sử dụng n m tiếp giáp v娨i thửa đất số 01, tờ bản đồ số 45, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương của ông V đ làm lối đi chung là không có căn cứ.
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ các tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp, tài liệu chứng cứ đã thu th p không chấp nh n yêu c u khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn V là có căn cứ, đúng pháp lu t.
Nguyên đơn ông Lê Văn V kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu chứng cứ m娨i chứng minh cho yêu c u của mình nên Hội xét xử không có căn cứ chấp nh n.
Quan đi m của đại diện Viện ki m sát nhân dân tỉnh Bình Dương là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nh n.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nh n yêu c u kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Văn V.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Lê Văn V là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ lu t Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Ngh quyết số 326/2016/RBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. hông chấp nh n yêu c u kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Văn V.
iữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2023/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện D u Tiếng, tỉnh Bình Dương.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Lê Văn V không phải ch u án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t k từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - V SND tỉnh Bình Dương; - Chi cục THADS huyện D u Tiếng; - TAND huyện D u Tiếng; - Các đương sự; - Tổ Hành chính Tư pháp; - Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Sỹ Trứ |