- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HSST Ngày 15 – 02 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Chí Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Đình Xiềng và bà Nguyễn Thị Mý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2022/HSST ngày 01 – 12 - 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-HS ngày 31 – 01- 2023 đối với bị cáo: Bùi Văn L, sinh năm 1988 tại tỉnh N; nơi thường trú: Bản S, xã T, huyện D, tỉnh N; chỗ ở hiện nay: làng M, xã O, huyện Ia, tỉnh G; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: học lớp 9/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H (chết) và bà Xên Thị N, sinh năm 1952; vợ (đã ly hôn) là Lương Thị T, sinh năm 1990 và có 01 con sinh năm 2012; hiện tại chung sống như vợ chồng với chị Rơ Mah D, sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: không.
Về nhân thân: Ngày 27/01/2005 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 36 tháng tù về tội "Cướp tài sản" (Bản án số 27/2005/HSST); ngày 12/7/2005 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội "Trốn khỏi nơi giam" (Bản án số 15/2005/HSST); ngày 20/01/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" và 09 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích", tổng hợp hình phạt 18 tháng tù (Bản án số 09/2015/HSST). Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ các bản án nói trên và được đương nhiên xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 25/5/2022 và chuyển tạm giam từ ngày 02/6/2022 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 25/5/2022, tổ công tác Công an huyện Ia Grai tuần tra tại khu vực làng Mít Jép, xã Ia O, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai thì phát hiện và bắt quả tang Bùi Văn L tàng trữ trong túi quần bên phải 02 gói nilon, bên trong có chứa chất rắn, dạng cục bột màu trắng đục và 01 gói nilon bên trong có 97 viên nén (trong đó có 90 viên nén màu đỏ, một mặt viên nén có ký hiệu "WY"; 02 viên nén màu đỏ, một mặt viên nén có ký hiệu "A"; 05 phần viên nén màu đỏ). Ngoài ra khi khám xét tại nơi ở còn thu giữ thêm một số dụng cụ do bị cáo tự chế để sử dụng trái phép chất ma túy. Bùi Văn L khai: ngày 21/5/2022 tại khu vực bản Sơn Trà, xã Tam Quang, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, bị cáo mua 02 gói Heroin với giá 10.000.000đ và 01 gói bên trong có chứa nhiều viên hồng phiến với giá 300.000đ của một người đàn ông không rõ tên, địa chỉ. Sau khi mua được ma túy, Lương cất vào túi quần bên phải mang về xã Ia O, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai để sử dụng dần thì bị phát hiện bắt quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 362/KL-KTHS ngày 02/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận: Toàn bộ chất màu trắng đục, dạng cục, bột trong 02 gói nilon trong bì thư ghi "1" niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroin, khối lượng 28,1115 gam. 02 viên nén màu đỏ, một mặt có ký hiệu "A", 90 viên nén màu đỏ, một mặt có ký hiệu "WY" và 05 phần viên nén màu đỏ trong một gói nilon trong bì thư ghi "2" niêm phong gửi giám định là ma túy, loại MDMA, tổng khối lượng 9,7602 gam.
Cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát Nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Bùi Văn Lương về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Diễn biến tại phiên toà:
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã mô tả. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
- Trình bày luận tội, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" và đề nghị áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo từ 12 năm đến 12 năm 06 tù. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng, buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và bị cáo.
XÉT THẤY:
. Hoạt động của các cơ quan và người tiến hành tố tụng: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng hiện hành; các tài liệu, chứng cứ thu thập được có tại hồ sơ vụ án là hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 25/5/2022 bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Heroin có khối lượng là 28,1115 gam và loại MDMA có khối lượng 9,7602 gam nhằm mục đích sử dụng trái phép. Theo Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tổng khối lượng chất ma túy trên được tính là 28,1115 gam + 9,7602 gam = 37,8717 gam. Do đó bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh theo điều khoản như trên của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy. Mặt khác bị cáo đã nhiều lần bị kết án và phải đi chấp hành hình phạt tù, mặc dù đã được xóa án tích nhưng vẫn không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, sống có ích cho xã hội mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, về cơ bản bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cân nhắc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có cơ hội cải tạo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời cũng là để răn đe và phòng ngừa chung.
. Về vấn đề khác: Bị cáo khai nhận nguồn gốc số ma túy thu giữ ngày 25/5/2022 là mua của một người đàn ông không rõ tên, địa chỉ ở khu vực bản Sơn Trà, xã Tam Quang, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An vào ngày 21/5/2022. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ để xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
. Về xử lý vật chứng: Vật chứng là các chất ma túy còn lại sau khi giám định và các dụng cụ để xử dụng trái phép chất ma túy là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Bùi Văn L 12 (mười hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 5 năm 2022.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:
- 01 bì Công văn, mặt trước ghi "1" và "Số 632/PC09, ngày 03 tháng 6 năm 2022", tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự, nội dung "CÔNG AN TỈNH GIA LAI*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ* và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh Tâm, Vũ Duy Nghĩa và Nguyễn Thanh Đức;
- 01 bì Công văn, mặt trước ghi "2" và "Số 632/PC09, ngày 03 tháng 6 năm 2022", tại mép dán mặt sau có các hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự, nội dung "CÔNG AN TỈNH GIA LAI*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ* và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh Tâm, Vũ Duy Nghĩa và Nguyễn Thanh Đức;
- 01 chai nhựa trong suốt có cắm ống hút bằng tre;
- 02 ống hút bằng tre;
- 01 bật lửa màu đỏ, đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02 tháng 12 năm 2022 giữa cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai).
4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Bùi Văn L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện Ia Grai; - Công an huyện Ia Grai; - Cơ quan THAHS CA huyện Ia Grai; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA huyện Ia Grai; - Chi cục THADS huyện Ia Grai; - Lưu hồ sơ/VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đặng Chí Công |