vanban.org

Bản án 04/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 22/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt Hoàng Văn L 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hìn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn L - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt Hoàng Văn L 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 243 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HSST
Ngày: 22/02/2023

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C , TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hiến Công Hanh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Triệu Thị Biên và bà Ma Thị Bằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Ma Thị Khuyến, Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện C , tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Đậu Xuân Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn L (tên gọi khác: Không). Sinh ngày 25/6/1969 tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 03/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Ngọc T (đã chết) và con bà Lộc Thị Đ; vợ: Nông Thị Q; con: có 03 con; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

- Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lục Văn Ch, Chức vụ: Phó Trưởng phòng, Phòng nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện C (nay là Phó Chánh văn phòng HĐND - UBND huyện C), tỉnh Bắc Kạn. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 19/4/2022, Trạm kiểm lâm Q thuộc Hạt Kiểm lâm huyện C, tỉnh Bắc Kạn phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn kiểm tra, phát hiện một phần diện tích rừng (qua đo đạc sơ bộ bàn đầu xác định được tổng diện tích rừng bị phát phá là 9.280m2) tại lô 10, 11, khoảnh 10 tiểu khu 253 thuộc thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn bị người dân phát phá trái phép cây cối tự nhiên lấy mặt bằng để canh tác, trồng trọt. Quá trình điều tra, xác minh ban đầu xác định trong tổng số diện tích bị phát phá trên là do Hoàng Văn L thuê người phát phá trái phép vào khoảng tháng 4 năm 2022 với mục đích để lấy đất canh tác (trồng rừng).

Ngày 07/6/2022, Hạt kiểm lâm huyện C đã tiến hành bàn giao toàn bộ hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Đ để tiến hành điều tra, xác minh theo quy định.

Ngày 08/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C phối hợp với các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương xã Đ và những người có liên quan tiến hành khám nghiệm hiện trường. Kết quả sử dụng máy định vị toàn cầu (GPS - MAP 78) để đo đạc, thống kê xác định tổng diện tích rừng bị Hoàng Văn L thuê người phát phá trái phép tại lô 10, 11, khoảnh 10 tiểu khu 253 thuộc thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn là 9.096m2 (chín nghìn không trăm chín mươi sáu mét vuông). Qua khám nghiệm xác định trên phần diện tích bị phát phá đã được đốt dọn trồng cây mỡ. Tổng số khúc gỗ các loại còn tại hiện trường có tổng khối lượng gỗ là 3,128m3 (ba phẩy một hai tám mét khối) gỗ từ nhóm V đến nhóm VIII và qua kiểm đếm có 42 (bốn mươi hai) gốc cây gỗ tự nhiên có tổng khối lượng (phần thân gỗ trên mặt đất) có tổng khối lượng là 0,641m3 (không phẩy sáu bốn một mét khối) và qua kiểm đếm số cây vầu bị chặt phá là 36 (ba mươi sáu) cây vầu.

Tiến hành kiểm tra, đối chiếu với bản đồ quy hoạch 03 loại rừng ban hành kèm theo Quyết định số: 1794/QĐ-UBND ngày 26/10/2018 của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc phê duyệt kết quả rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch 03 loại rừng tỉnh Bắc Kạn; Bản đồ hiện trạng rừng năm 2021 trên địa bàn huyện C ban hành theo Quyết định: 375/QĐ-UBND ngày 26/01/2022 của UBND huyện C thì diện tích rừng do Hoàng Văn L phát phá là rừng sản xuất, trạng thái là rừng tự nhiên (rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh phục hồi).

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 29/KL-HĐĐGTS ngày 29/7/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: “3,128m3 gỗ có giá trị tại thời điểm tháng 4 năm 2022 là 1.251.200đ (một triệu hai trăm năm mươi mốt nghìn hai trăm đồng) và 36 cây vầu có giá trị tại thời điểm tháng 4 năm 2022 là 108.000đ (Một trăm linh tám nghìn đồng)”.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐGTS ngày 15/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: “0,641m3 gỗ (phần gốc còn lại sau khi chặt hạ, không tính phần rễ) có giá trị tại thời điểm tháng 4 năm 2022 là 192.300đ (một trăm chín mươi hai nghìn ba trăm đồng)”.

Quá trình điều tra, truy tố Hoàng Văn L khai nhận: Khoảng đầu tháng 4 năm 2022, do có nhu cầu lấy đất để canh tác (trồng rừng) nên L đã thuê và chỉ vị trí, mốc khu vực rừng cần phát cho 04 (bốn) người đàn ông dân tộc Mông (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) rồi sau đó 04 người đàn ông dân tộc Mông sử dụng dao và cưa xăng của họ mang theo tiến hành phát phá phần diện tích rừng do gia đình L quản lý, canh tác từ năm 1988 (chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay sổ bìa xanh) thuộc thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn trong thời gian 04 (bốn) ngày với tổng số tiền công L đã thanh toán cho họ là 3.000.000đ (ba triệu đồng). Trong quá trình những người dân L thuê phát phá rừng thì L có thỉnh thoảng lên kiểm tra và đến khi họ phát phá xong phần diện tích rừng L thuê thì L trực tiếp tiến hành dọn, đốt số cây chặt phá và trồng cây Mỡ trên toàn bộ diện tích phát được.

Tại Bản cáo trạng số: 03/CT-VKSCĐ, ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Hoàng Văn L về tội “Hủy hoại rừng” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn L phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo L mức án từ 18 đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng.

Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Không phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyên đơn dân sự UBND huyện C, tỉnh Bắc Kạn yêu cầu Hoàng Văn L phải bồi thường thiệt hại tài sản cho Nhà nước số tiền 1.551.500đ (một triệu năm trăm năm mươi mốt nghìn năm trăm đồng) theo kết luận định giá tài sản. Ghi nhận bị cáo đã nộp tạm ứng số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C. Tiếp tục tạm giữ số tiền trên để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

Về vật chứng: Đối với số lâm sản (các cây gỗ tự nhiên) có tổng khối lượng gỗ là 3,769m3 gỗ từ nhóm V đến nhóm VIII còn tại hiện trường. Do bị cáo Hoàng Văn L đã nộp tạm ứng tiền để bồi thường toàn bộ thiệt cho nguyên đơn dân sự là UBND huyện C và do đường đi lại khó khăn, không vận chuyển ra khỏi rừng được, nên đề nghị Hoàng Văn L không đề nghị lấy lại để nguyên số gỗ trên tại hiện trường và đại diện nguyên đơn dân sự có ý kiến để nguyên tại rừng và giao cho UBND huyện C, tỉnh Bắc Kạn xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với 36 (ba mươi sáu) cây vầu bị chặt trên diện tích rừng mà Hoàng Văn L thuê người phát phá trái phép do đã bị đốt dọn nên quá trình điều tra không tiến hành thu hồi được.

Đối với số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng) L trả cho 04 (bốn) người đàn ông dân tộc Mông (không rõ tên tuổi, địa chỉ) thuê phát phá rừng và các con dao và cưa xăng của 04 người đàn ông dân tộc Mông sử dụng để phát phá diện tích rừng trên cho L (theo lời khai nhận của Hoàng Văn L). Quá trình điều tra không xác định được danh tính, địa chỉ cụ thể của 04 người đàn ông dân tộc Mông nên quá trình điều tra không tiến hành tạm giữ được.

Về án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sở thẩm; Về án phí dân sự: do bị cáo đã tự nguyện nộp tiền để bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn dân sự trước khi mở phiên tòa nên bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Đại diện nguyên đơn dân sự đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị HĐXX xem xét xử lý theo quy định của pháp luật; về trách nhiệm dân sự UBND huyện C, tỉnh Bắc Kạn vẫn giữ nguyên yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.551.500đ (một triệu năm trăm năm mươi mốt nghìn năm trăm đồng) theo kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C. Do bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại tài sản cho UBND huyện C nếu tại phiên tòa bị cáo không có yêu cầu đề nghị xử lý số gỗ là vật chứng của vụ án thì nguyên đơn dân sự nhất trí với đề nghị xử lý vật chứng của đại diện Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và các vấn đề khác như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nói lời sau cùng không có ý kiến tranh luận đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận:

Do có nhu cầu lấy đất canh tác (trồng rừng) nên vào khoảng đầu tháng 4 năm 2022, Hoàng Văn L đã có hành vi thuê 04 (bốn) người đàn ông dân tộc Mông (không rõ tên tuổi, địa chỉ) sử dụng dao và máy cưa xăng phát phá trái phép 9.096m2 (chín nghìn không trăm chín mươi sáu mét vuông) diện tích rừng tự nhiên, trạng thái là rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh phục hồi tại các lô 10, 11, khoảnh 10 tiểu khu 253 thuộc thôn Nà D, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Hậu quả gây thiệt hại 3,769m3 gỗ từ nhóm V đến nhóm VIII có giá trị 1.443.500đ (một triệu bốn trăm bốn mươi ba nghìn năm trăm đồng) và 36 (ba mươi sáu) cây vầu có giá trị 108.000đ (một trăm linh tám nghìn đồng).

Lời khai nhận của bị cáo Hoàng Văn L là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý và bảo vệ rừng của Nhà nước, ảnh hưởng lớn đến công tác phát triển và bảo vệ rừng nhất là diện tích rừng tự nhiên tại địa phương. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Hành vi phát phá trái phép rừng với diện tích 9.096m2 (chín nghìn không trăm chín mươi sáu mét vuông) là vi phạm pháp luật, đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 03/CT-VKSCĐ, ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn truy tố.

Hành vi phạm tội của Hoàng Văn L là nghiêm trọng, xâm hại đến hoạt động quản lý và bảo vệ rừng của Nhà nước trên địa bàn, gây tác hại đến môi trường sinh thái, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương do đó cần xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để đảm bảo giáo dục răn đe bị cáo đồng thời đảm bảo tính răn đe phòng ngừa chung trong cộng đồng dân cư trên địa bàn.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố bị can Hoàng Văn L đều thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Sau khi phát phá L đã tự nguyện trồng lại cây mỡ trên toàn bộ diện tích rừng đã phát phá trái phép với mục đích khắc phục hậu quả. Ngày 21/12/2022, L đã tự nguyện nộp vào Chi cục THADS huyện Chợ Đồn số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 0001308 để bồi thường thiệt hại. Ngoài ra bị cáo có bố đẻ là ông Hoàng Ngọc T là người có công với nước được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt:

Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, sau khi phát phá rừng trái phép bị cáo đã trồng cây mỡ trên toàn bộ diện tích L phát phá được nên không cần thiết áp dụng hình phạt tù cách ly xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, tạo điều kiện cho bị cáo cơ hội sửa chữa lỗi lầm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, song vẫn có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy bị cáo không có công việc ổn định, không có thu nhập và tài sản riêng đứng tên bị cáo do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đại diện viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện nguyên đơn dân sự UBND huyện C, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại tài sản cho Nhà nước số tiền 1.551.500đ (một triệu năm trăm năm mươi mốt nghìn năm trăm đồng). Xét yêu cầu đề nghị của nguyên đơn dân sự là chính đáng phù hợp với thực tế thiệt hại xảy ra nên được chấp nhận toàn bộ.

Ghi nhận trước khi tòa án mở phiên tòa xét xử bị cáo đã nộp số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C để đảm bảo thi hành án khoản tiền bồi thường. Số tiền 2.000.000đ bị cáo đã nộp là tự nguyện cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng:

Đối với số lâm sản (các cây gỗ tự nhiên) có tổng khối lượng gỗ là 3,769m3 gỗ từ nhóm V đến nhóm VIII còn tại hiện trường. Do bị cáo Hoàng Văn L đã bồi thường toàn bộ thiệt cho nguyên đơn dân sự là UBND huyện C số tiền 1.551.500đ (một triệu năm trăm năm mươi mốt nghìn năm trăm đồng). Do toàn bộ số gỗ vật chứng vụ án là gỗ từ nhóm V đến nhóm VIII bị chặt hạ tại hiện trường, trong đó có một phần số gỗ do để lâu bị tác động bởi thời tiết nên một phần đã bị hư hỏng, toàn bộ số gỗ trên là tài sản do nhà nước quản lý và bị cáo cũng nhất trí không đề nghị lấy lại nên cần tịch thu giao cho UBND huyện C xử lý theo quy định như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Đối với 36 (ba mươi sáu) cây vầu bị chặt trên diện tích rừng mà Hoàng Văn L thuê người phát phá trái phép do đã bị đốt dọn nên quá trình điều tra không tiến hành thu hồi được để xử lý theo quy định.

Đối với 04 (bốn) người đàn ông dân tộc Mông (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) mà Hoàng Văn L đã thuê để phát phá trái phép rừng cho L tại các lô 10, 11, khoảnh 10 tiểu khu 253 thuộc thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Kết thúc điều tra chưa xác định được danh tính, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, nếu xác định được sẽ xem xét xử lý sau.

Đối với bà Nông Thị Q (vợ Hoàng Văn L). Quá trình điều tra xác định bà Q không biết việc L thuê người phát phá diện tích rừng trên và không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xem xét, xử lý.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; Về án phí dân sự: Do bị cáo đã tự nguyện nộp tiền để bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn dân sự trước khi mở phiên tòa nên bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn L phạm tội “Hủy hoại rừng”.

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt Hoàng Văn L 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Phạt bổ sung: Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo phải bồi thường cho nguyên đơn dân sự toàn bộ số tiền bị thiệt hại là 1.551.500đ (một triệu năm trăm năm mươi mốt nghìn năm trăm đồng) .

Ghi nhận bị cáo đã nộp số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) tại Chi cục Thi hành dân sự huyện C để đảm bảo thi hành án khoản tiền bồi thường cho nguyên đơn dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu 3,769m3 gỗ từ nhóm V đến nhóm VIII còn tại hiện trường để giao cho UBND huyện C, tỉnh Bắc Kạn xử lý theo quy định của pháp luật.

4. Về biện pháp tư pháp: Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) bị cáo L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001308 ngày 21/12/2022 của Chi cục Thi hành dân sự huyện C để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH.

Bị cáo Hoàng Văn L phải chịu 200.000,đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

"Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự ".

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, nguyên đơn dân sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ