vanban.org

Bản án 04/2023/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 16/01/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/01/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác toàn bộ kháng cáo của bị hại ông Nguy n Tống K - giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 38/2022/HS-ST ngày 16/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.

[1] Tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguy n Văn B phạm tội Cố ý gây thương tích Xử phạt bị cáo Nguy n Văn B 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 04/3/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HSPT - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Bác toàn bộ kháng cáo của bị hại ông Nguy n Tống K - giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 38/2022/HS-ST ngày 16/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HSPT
Ngày 16 tháng 01 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguy n Hà Ngân

Các Thẩm phán: Bà Trịnh Thị Thiện, bà Trương Thị Lệ Thu.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Vân Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng, Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số 131/2022/TLPT-HS ngày 24/10/2022 đối với bị cáo Nguy n Văn B, do có kháng cáo của bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 38/2022/HSST, ngày 16/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.

* B cáo không kháng cáo:

Họ và tên: Nguy n Văn B. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 13/7/1982, tại xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.Trình độ văn hoá:Lớp4/12.Nghề nghiệp: Lao động tự do.Chức vụ, đảng phái: Quần chúng.Con ông: Nguy n Văn H; (Đã chết).Con bà: Nguy n Thị G; (Đã chết).Anh chị em ruột có 07 người, bị cáo là con thứ bảy trong gia đình.Vợ: Nguy n Thị L. Sinh năm: 1985.(Đã ly hôn).Hiện trú tại: Thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.Con: có 01 con, sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 04/3/2022 tại Trại tạm giam Công an tỉnh H cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho b cáo: Ông Nguy n Khánh T- Trợ giúp viên pháp lý; Địa chỉ:Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nướcthuộc Sỡ tư pháp tỉnh Hà Tĩnh bào chữa cho bị cáo, (có mặt).

* Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo hoặc liên quan đến kháng cáo:

- Người b hại có kháng cáo: Anh Nguy n Tống K, sinh năm 1967; nghề nghiệp: Làm ruộng; trú tại: thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.(Có mặt).

- Người làm chứng:

+ Anh Trần Văn T1, sinh năm 1971; trú tại: thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, (Có mặt).

+ Chị Lê Thị C, sinh năm 1973; trú tại: thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, (Vắng mặt).

+ Anh Lê Khắc T2, sinh năm 1979; trú tại: thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, (Vắng mặt).

+ Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1960; trú tại: thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, (Vắng mặt).

+ Anh Lâm Xuân T3, sinh năm 1994; trú tại: thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh,(Vắng mặt).

+ Chị Nguy n Thị D, sinh năm 1973, trú tại thôn Y, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 24/12/2021, anh Nguy n Tống K (Sinh năm 1967) và anh Lâm Xuân T3 (Sinh năm 1994), cùng trú tại thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh đến nhà gia đình anh Trần Văn T1 (Sinh năm 1971), trú cùng thôn chơi, uống rượu nhân dịp l Noel. Trong lúc cả 3 người đang ngồi chơi, thì có chị Nguy n Thị D, sinh năm 1973, trú tại thôn Y, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (Người có quan hệ tình cảm với Nguy n Văn B) đến nhà Nguy n Văn B (cạnh nhà anh T1) để tìm con chó của mình. Khi đi qua nhà anh T1, thấy anh K đang ngồi chơi tại đây nên chị D nhờ anh K cùng mình đi sang nhà của B (trú cùng thôn với anh T1) để tìm chó. Khi chị D và anh K vừa đến nhà của B (Bảy ở nhà bà Nguy n Thị V) thì giữa B và anh K xảy ra xích mích, lời qua tiếng lại nên anh K đi về nhà anh T1. Khi anh K đi về nhà gia đình anh T1, B đi theo anh K sang nhà anh T1 tiếp tục chửi bới, thì được anh T1 can ngăn nên anh K và B đi về nhà ở của mình. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, B đi vào nhà lấy 01 (Một) con dao rạ dài 60cm, phần lưỡi làm bằng kim loại, màu nâu, dài 40cm, đầu lưỡi hình cung; cán làm bằng gỗ, màu nâu, dài 20cm để chặt cây, cùng chị D đi sang nhà anh T1 xin tìm chó, được anh T1 đồng ý. B và chị D đi vào trong nhà anh T1 tìm chó nhưng không tìm được nên đi ra ngoài sân. Lúc này, do trên đường về phát hiện quên mũ bảo hiểm nên anh K quay lại nhà anh T1 để tìm mũ bảo hiểm thì gặp B. Do bức xúc về mâu thuẫn xảy ra trước đó với anh K nên khi nhìn thấy anh K đang đứng trước sân, B cầm con dao đi ra chém về phía người anh K, được anh T1 can ngăn nên không trúng. Sau đó anh T1 vào trong nhà đi vệ sinh, B tiếp tục dùng dao chém vào người anh K, anh K dơ tay phải lên đỡ thì bị chém trúng vào tay phải. Lúc này chị Lê Thị C (vợ anh T1) đang ở trong nhà nghe tiếng kêu cứu của anh K nên chạy ra thì thấy B đang cầm dao chém liên tiếp nhiều nhát vào người anh K. Bị B chém, anh K bỏ chạy ra ngoài ngõ nhà anh T1 rồi ngã xuống nền đất. Thấy anh K bị ngã, B vứt con dao tại hiện trường rồi đi về nhà.Còn anh Nguy n Tống K bị thương, được người dân đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H từ ngày 25/12/2021 đến ngày 28/12/2021 thì ra viện.

Tại bản Kết luận định giám định pháp y về thương tích số 15/TgT ngày 24/01/2022 của Trung tâm giám định pháp y và giám định y khoa, Sở Y kết luận: Vùng trán 02 sẹo vết thương: Sẹo phía trên, kích thước 3,8cm x 0,3cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%; sẹo phía dưới, kích thước 03cm x 0,3cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%. Sẹo vết thương vùng trán, kích thước 3,4cm x 0,2cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%. Gò má phải vết thâm da, kích thước 0,9cm x 9,4cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 0,5%. Sẹo vết thương môi trên, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%. Bàn tay phải: sẹo đốt 2 ngón III, kích thước 02cm x 0,2cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%; sẹo đốt 2 ngón IV, kích thước 02cm x 0,2cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%. Theo phương pháp cộng tại Thông tư, xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 12% (Mười hai phần trăm). Thương tích do vật sắc tác động gây nên.

Tại Bản án sơ thẩm số 38/2022/HS-ST ngày 16/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh tuyên bố bị cáo Nguy n Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm đ, Khoản 2 Điều 134; Điểm s Khoản 1, 2, Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguy n Văn B 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 04/3/2022.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên án phí, bồi thường dân sự, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/9/2022, bị hại cho rằng bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm có tính sát thương cao chém liên tiếp vào vùng đầu là vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại với cường độ tấn công cao, liên tục, theo kết luận giám định thương tích bị hại đã bị ba vết sẹo vùng trán kích thước lần lượt là 3,8cm x 0,3cm, 03cm x 0,3cm, 3,4cm x 0,2cm, vết thương ở môi, vết thương ở hai đốt ngón tay, vết thâm ở gò má. Thời điểm giám định ngày 24/01/2022, sau 01 tháng kể từ ngày bị hại bị chém không phải thương tích ở thời điểm xảy ra vụ án nên không phản ánh đúng thương tích của bị hại và tính chất, mức độ hành vi của bị cáo. Vì vậy, bị hại cho rằng các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm chỉ khởi tố, truy tố và xét xử bị cáo về tội Cố ý gây thương tích là áp dụng sai pháp luật, không phù hợp các tình tiết khách quan của vụ án nên kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm số 38/2022/HSST đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tuyên hủy toàn bộ bản án 38/2022/HSST của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, giao hồ sơ về cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết lại vụ án theo đúng quy định pháp luật.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 23/9/2022, anh Nguy n Tống K cho rằng các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm chỉ khởi tố, truy tố và xét xử bị cáo về tội Cố ý gây thương tích là áp dụng sai pháp luật, không phù hợp các tình tiết khách quan của vụ án nên kháng cáo toàn bộ bản án, yêu cầu cấp phúc thẩm tuyên hủy toàn bộ bản án 38/2022/HSST của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, giao hồ sơ về cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết lại vụ án theo đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, anh K kh ng định chỉ yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại về mặt tội danh và hình phạt tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo còn về phần trách nhiệm dân sự cũng như các vấn đề khác, anh K thống nhất như bản án sơ thẩm không yêu cầu xem xét

Những người làm chứng có mặt vẫn giữ nguyên nội dung trình bày như tại phiên tòa cấp sơ thẩm, không ai bổ sung gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án có ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, 356 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm 38/2022/HS-ST ngày 16/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.

NH N ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 . Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị hại trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Về nội dung:

2.1 . Về hành vi:

Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo và những người làm chứng cũng như các tài liệu được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 24/12/2021, tại nhà anh Trần Văn T1, thuộc địa phận thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, do mâu thuẫn cá nhân nên Nguy n Văn B đã dùng 01 con dao rạ dài 60cm, phần lưỡi làm bằng kim loại, màu nâu, dài 40cm, đầu lưỡi hình cung, cán làm bằng gỗ, màu nâu, dài 20cm chém nhiều nhát trúng vào tay phải, vùng trán và vùng má anh Nguy n Tống K, làm anh K bị tổn hại về sức khỏe là 12% (Mười hai phần trăm). Xét bị cáo Nguy n Văn B chỉ với một mâu thuẫn nhỏ, nhưng đã dùng dao là hung khí nguy hiểm chém anh K nhiều nhát gây tổn hại sức khỏe cho bị hại với tỷ lệ thương tật 12% . Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác được quy định tại bộ luật hình sự. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và phạm tội với lỗi cố ý. Tuy nhiên, trong ý thức bị cáo chỉ là tức giận giơ dao chém anh K chứ không thể hiện ý chí giết anh K. Khi anh K bị ngã, bị cáo đã chủ động vứt dao đi và đi về nhà chứ không cố ý truy sát bị hại đến cùng. Khi giơ giao chém anh K, bị cáo cũng chỉ chém xuống theo phản xạ chứ không có chủ ý chém vào vị trí nào, hành động chém cũng không có tính quyết liệt. Và thực tế, sau khi bị chém ngã xuống nền đất, anh K vẫn thấy được bị cáo đã vứt dao đi, đồng thời, anh K còn gọi đích danh chủ nhà là anh Trần Văn T1 cùng xóm làng đến cứu trợ. Ngay lúc có người đến cứu, anh K vẫn ngẩng đầu lên nhìn mặc dù không nhớ rõ là ai là người đã đưa anh K đi cấp cứu. Hơn nữa hậu quả, thương tích của bị hại theo Kết luận giám định của 15/TgT ngày 24/01/2022 của Trung tâm giám định pháp y và giám định y khoa, Sở Y là 12 %. Như vậy, HĐXX nhận thấy: Toà án cấp sơ thẩm áp dụng điểm đ, Khoản 2 Điều 134; Điểm s Khoản 1, 2, Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo Nguy n Văn B về tội “Cố ý gây thương tích” với mức án 24 (Hai mươi bốn) tháng tù là là đúng người, đúng tội, không oan sai và đã xem xét đầy đủ tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để lên mức án phù hợp.

2.2 . Xét nội dung kháng cáo yêu cầu xem xét lại về phần tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguy n Văn B1 của bị hại thấy:

Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại cấp sơ thẩm, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Không có khiếu nại nào khác về hành vi, quyết định của các cơ quan tố tụng; Lời khai của những người làm chứng, của bị cáo tại hồ sơ cũng như tại phiên tòa hôm nay đều thống nhất và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ về hiện trường vụ án, giám định pháp y.....

Việc thay đổi và rút một phần nội dung kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay của bị hại không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 342 BLTTHS nên được chấp nhận. Đối với phần kháng cáo còn lại, yêu cầu xem xét về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguy n Văn B, bị hại Nguy n Tống K không xuất trình được chứng cứ nào chứng minh cho yêu cho kháng cáo của mình. Và như đã nhận định 2.1 , HĐXX thấy rằng cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi bị cáo để tuyên phạt bị cáo mức án và tội danh phù hợp nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị hại.

3 . Về án phí: Bị hại kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 xử:

Bác toàn bộ kháng cáo của bị hại ông Nguy n Tống K - giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 38/2022/HS-ST ngày 16/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.

Căn cứ Điểm đ, Khoản 2 Điều 134; Điểm s Khoản 1, 2, Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

[1] Tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguy n Văn B phạm tội Cố ý gây thương tích

Xử phạt bị cáo Nguy n Văn B 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 04/3/2022.

[2] V tr ch nhi m dân ự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự: Chấp nhận sự thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại của bị cáo và bị hại. Buộc bị cáo Nguy n Văn B có trách nhiệm bồi thường về sức khỏe cho người bị hại Nguy n Tống K với tổng số tiền là: 18.610.000đ (Mười tám triệu sáu trăm mười ngàn đồng).

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải ch u khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy đ nh tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm trả.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

[3] . V n phí: Căn cứ điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc ông Nguy n Tống K phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ