vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Sơn Tây, TP. Hà Nội Tuyên án 13/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
!THỊ!XÃ!SƠN!TÂY,!!
THÀNH!PHỐ!HÀ!NỘI!
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HS-ST
Ngày 13 tháng 01 năm 2023

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THỊ!XÃ!SƠN!TÂY,!THÀNH!PHỐ!HÀ!NỘI!

!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Hợi. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Minh Nguyệt.

Ông Đào Huy Dương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa: Bà Lã Thị Loan, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 124/2022/TLST-HS, ngày 27 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST- HS, ngày 04 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo: !!!!!!!!!Phạm!Minh!T, sinh ngày 09 tháng 7 năm 2000; Giới tính: Nam; ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Tịnh Thủy, xã Hồng Minh, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Phạm Văn Chín và bà Đặng Thị Thành; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/10/2022, chuyển tạm giam từ ngày 10/10/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số I – Công an thành phố Hà Nội, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Quốc B, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số 16/01 phố Trần Hưng Đạo, phường Ngô Quyền, thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội, vắng mặt.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cuối tháng 9/2022 Phạm Minh T đến địa bàn thị xã Sơn Tây tìm việc làm. Sáng ngày 04/10/2022 trong lúc ngồi uống nước ở khu vực ngã tư viện 105 thì T gặp Trần Quốc B cùng ngồi uống nước. Qua nói chuyện nên biết nhau đều là đối tượng nghiện ma Ty. B hỏi T có ma Ty bán không, do sẵn có ma Ty mua trước đó nên T nói: “Có ”, rồi cả hai cho nhau số điện thoại. Khoảng 14 giờ chiều cùng ngày B gọi điện nói T bán cho gói ma Ty đá giá 400.000đ và hẹn giao dịch mua bán ma Túy ở khu vực ngã tư viện 105 Sơn Tây. Sau đó T bắt tacxi đến điểm hẹn, thấy B đang ngồi ở quan nước T đi đến lấy gói ma Ty ra đưa cho B, B cầm ma Ty ở tay và đưa trả T 400.000đ thì cùng lúc đó Tổ công tác- Công an phường Sơn Lộc, thị xã Sơn Tây phát hiện bắt quả tang hành vi mua bán trái phép chất ma Ty. Tang vật thu giữ gồm: 01 gói nilông trong suốt bên trong chứa tinh thể mầu trắng thu tay phải Trần Quốc B (B khai là ma Ty vừa mua của T ); thu 400.000đ trên tay T (T khai là tiền bán ma Ty cho B). Ngoài ra, cơ quan Công an còn thu giữ của Phạm Minh T 01 điện thoại di động, thu của Trần Quốc B 01 điện thoại di động.

Ngày 04/10/2022, Cơ quan điều tra, Công an thị xã Sơn Tây ra quyết định trưng cầu giám định số ma Ty thu giữ khi bắt quả tang. Tại kết luận giám định số: 7020-PC09 ngày 11/10/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hà Nội kết luận:

Tinh thể mầu trắng bên trong 01 gói nilông là ma Ty loại Methamphetamine, khối lượng 0,047 gam.

Về nguồn gốc ma Ty: Trước đó Phạm Minh T mua của người đàn ông không quen biết ở khu vực ngã tư Lục Quân thuộc xã Cổ Đông 01 gói ma Ty đá với giá 400.000đ T đã sử dụng một nửa. còn một nửa T bán lại cho B với giá 400.000đ. Do đó cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý người đã bán ma Ty cho Phạm Minh T.

Đối với Trần Quốc B là người mua ma Ty của T ngày 04/10/2022, do khối lượng ma Ty chưa đủ để xử lý hình sự, bản thân B có 01 tiền án về tội mua bán trái phép chất ma Ty nhưng đã được xóa án tích, nên hành vi của B Cơ quan điều tra, Công an thị xã Sơn Tây ra quyết định xử lý hành chính bằng hình thức phạt tiền(mức phạt 3.500.000đ).

Vật chứng vụ án: 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng kỹ thuật hình sự, Công an TP Hà Nội; 02 điện thoại di động và số tiền 400.000đ được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây để B quản xử lý theo pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số: 01/CT-VKS, ngày 26/12/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố bị cáo Phạm Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Minh T tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Xử phạt Phạm Minh T từ 24-30 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy ma Ty bên trong 01 phong bì niêm phong dán kín của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội; Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động thu của Phạm Minh T và 01 điện thoại di động thu của Trần Quốc B; tịch thu sung công quĩ Nhà nước số tiền 400.000 đồng; Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ:!!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Sơn Tây, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Minh T nhận thấy:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét lời khai nhận tội của bị cáo thấy phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bởi vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 04/10/2022 tại khu vực ngã tư Bệnh viện Quân y 105, phường Sơn Lộc, thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội, Phạm Minh T đã có hành vi bán trái phép 0,047 gam ma Ty loại Methamphetamine cho Trần Quốc B với giá 400.000đ thì bị Công an phát hiện bắt quả tang. Theo Kết luận giám định số: 7020-PC09 ngày 11/10/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an TP Hà Nội kết luận ma Ty T bán cho B là ma Ty loại Methamphetamine, khối lượng 0,047 gam. Xét khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo Phạm Minh T đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố Phạm Minh T là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với Trần Quốc B là người hỏi mua ma Ty của Phạm Minh T với mục đích sử dụng cho bản thân, đã bị Công an thị xã Sơn Tây xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua bán trái phép chất ma Ty là phù hợp với qui định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, hành vi bán trái phép chất ma Ty của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước được pháp luật B vệ và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn. Trong khi Nhà nước, các cơ quan truyền thông và các cơ quan B vệ pháp luật có nhiều biện pháp tuyên truyền về hiểm họa, tác hại của ma Ty đối cuộc sống cộng đồng và sức khỏe của con người, đồng thời là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác, nhưng bị cáo không có ý thức tuân thủ pháp luật, cố ý phạm tội. Do đó, cần có hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân của bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và phạm tội lần đầu, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS, nên Hội đồng xét xử xét giảm nhẹ một phần về hình phạt cho bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Phạm Minh T không có tài sản riêng, không có công việc, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với ma Ty bên trong 01 phong bì niêm phong dán kín của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia màu đen thu của Phạm Minh T, 01 điện thoại di động Avio màu xanh tím thu của Trần Quốc B, số tiền 400.000 đồng thu của Phạm Minh T. Xét đây là phương tiện trực tiếp liên quan đến vụ án nên tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 02 điện thoại và tịch thu sung công quĩ Nhà nước số tiền trên theo qui định của pháp luật.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, !

QUYẾT!ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Phạm Minh T 24(Hai mươi tư)

tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 04/10/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma Ty bên trong 01 phong bì niêm phong dán kín của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, có chữ ký của Trương Trọng Việt, Nguyễn Duy Thương, Phạm Minh T, Trần Quốc B; Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia màu đen, 01 điện thoại di động Avio màu xanh tím; tịch thu sung công quĩ Nhà nước số tiền 400.000đ.(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 27/12/2022 của Công an thị xã Sơn Tây và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội; và Giấy ủy nhiệm chi chuyển khoản ngay 29/12/2022 của Công an thị xã Sơn Tây chuyển kho bạc nhà nước Sơn Tây, tài khoản 3949.0.9053106).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Minh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây được quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. *Nơi!nhận:!

Cỡ chữ