vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 16/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Xuân N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Xuân N 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 23/11/2022. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Xuân N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HƯNG YÊN
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HS-ST
Ngày 16-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hữu Sự và bà Nguyễn Thị Hệ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Đăng Việt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2023/TLST-HS ngày 04/01/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HS ngày 05/01/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Xuân N, sinh năm 1985 tại: Hưng Yên; Nơi cư trú: Đội 12, khu phố X, phường L, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Xuân T (đã chết) và bà Nguyễn Thị L1; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1984 (đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2010.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 01/10/2013 UBND thành phố Hưng Yên ra quyết định số 2985 về việc đưa người vào Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Hưng Yên về hành vi “Nghiện ma túy”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/11/2022, chuyển tạm giam ngày 29/11/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên (Có mặt).

- Những người làm chứng:

+ Anh Đào Huy B, sinh năm 1979;

Địa chỉ: Đội 12, khu phố X, phường L, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên.

+ Ông Trần Văn T1, sinh năm 1947;

Địa chỉ: Ngõ 12/733, đường N, phường H1, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 50 phút, ngày 23/11/2022 N đi bộ từ nhà đến đến khu vực đường N (gần khu chung cư T2), thuộc phường H1, thành phố Hưng Yên thì nhìn thấy anh Đào Huy B đang đi bộ. N lại gần hỏi “Anh có hàng không, để cho em xin một con”. B đưa cho N 01 gói giấy nhỏ màu trắng, bên trong có chứa chất màu trắng, dạng cục, bột, là ma túy, loại Heroin. N cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải đi bộ tiếp để tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, N đi đến khu vực cuối ngã ba cầu dân sinh giao nhau giữa đường T3 với đường , thuộc phường H1 thì bị Tổ công tác Công an thành phố Hưng Yên bắt quả tang. Trần Xuân N khai nhận đây là ma túy loại Heroine, mục đích cất giấu để tìm nơi sử dụng. Ngoài ra, thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của N 01 ống Novocaine và 01 bơm kim tiêm.

Anh Đào Huy B khai: Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 23/11/2022, khi B đang đi bộ ở đường N (gần khu chung cư T2) thì gặp Trần Xuân N đi bộ gần đó. Quá trình gặp, hai người chỉ nói chuyện, hỏi thăm sức khỏe nhau, một lúc thì anh B nói có việc phải đi về nhà, còn N đi đâu làm gì anh không biết.

Biên bản về việc kiểm tra nhanh chất ma túy hồi 12 giờ 35 phút ngày 23/11/2022 đối với Trần Xuân N. Quá trình thử nước tiểu bằng que thử FASTEP, thấy que thử thấy xuất hiện một vạch ở vùng chứng (C), tương ứng với dương tính với ma túy.

Ngày 23/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hưng Yên khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Xuân N và Đào Huy B đều tại Đội 12, khu phố X, phường L, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Kết luận giám định số 440/KL-KTHS(MT) ngày 26/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì niêm phong, có khối lượng: 0,132g (Không phẩy một ba hai gam) là ma túy, loại Heroine.

Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu gửi giám định của Phòng kĩ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên số 440/KL-KTHS (MT), bên trong có 0,125g (Không phẩy một hai năm gam) Heroin, 01 mảnh giấy màu trắng gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 bơm kim tiêm; 01 ống Novocaine.

Tại bản Cáo trạng số: 02/CT-VKS-TPHY ngày 03/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Trần Xuân N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, nhất trí với cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt thấp nhất.

- Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Xuân N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt Trần Xuân N từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong hoàn mẫu gửi giám định của Phòng kĩ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên số 440/KL-KTHS (MT), bên trong có 0.125g (Không phẩy một hai năm gam) Heroin; 01 (một) mảnh giấy màu trắng gói ma túy; 01 (một) vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 (một) bơm kim tiêm; 01 (một) ống Novocaine.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Những người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ, nhưng đều vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Việc vắng mặt này không làm trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt những người làm chứng.

Về hành vi phạm tội và tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản vụ việc về hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 23/11/2022, tại khu vực cuối ngã ba cầu dân sinh giao nhau giữa đường T với đường A, thuộc phường H1, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, Trần Xuân N có hành vi tàng trữ trái phép 0,132g (Không phẩy một ba hai gam) Heroine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; căn cứ số lượng ma túy bị thu giữ như đã nêu trên thì bị cáo đã phạm tội theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên truy tố bị cáo N theo tội danh và Điều luật viện dẫn trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được ma tuý không chỉ gây tác hại rất lớn về sức khỏe cho chính người sử dụng mà còn làm ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau này, là gánh nặng cho gia đình, xã hội và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhưng vì mục đích sử dụng cho bản thân để thoả mãn cơn nghiện và ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có bố đẻ là ông Trần Xuân T là thương binh hạng 4/4, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất và Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhì. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 01/10/2013 UBND thành phố Hưng Yên ra quyết định đưa bị cáo vào Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Hưng Yên đối về hành vi “Nghiện ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ tính chất hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tương xứng và buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 0.125g (Không phẩy một hai năm gam) Heroin là mẫu vật hoàn lại sau giám định, đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, cho tiêu hủy;

- Đối với 01 (một) mảnh giấy màu trắng gói ma túy; 01 (một) bơm kim tiêm; 01 (một) ống Novocaine là công cụ mà bị cáo dùng để đựng và sử dụng ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 (một) phong bì niêm phong hoàn mẫu gửi giám định của Phòng kĩ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên đều không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, cho tiêu hủy.

Các vấn đề khác:

Đối với anh Đào Huy B: Anh B không thừa nhận đưa ma túy cho bị cáo. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất, anh B khẳng định không đưa ma túy hay bất cứ đồ vật, tài liệu gì cho N và không có tài liệu nào chứng minh anh B là người đưa ma túy cho N. Vì vậy cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với anh B là đúng quy định.

Quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, áp dụng điều luật, mức hình phạt, xử lý vật chứng trong vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo bị xác định có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Xuân N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Xuân N 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 23/11/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu cho tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong hoàn mẫu gửi giám định của Phòng kĩ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên số 440/KL-KTHS (MT), bên trong có 0.125g (Không phẩy một hai năm gam) Heroin; 01 (một) mảnh giấy màu trắng gói ma túy; 01 (một) vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 (một) bơm kim tiêm; 01 (một) ống Novocaine.

(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hưng Yên, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an thành phố Hưng Yên và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hưng Yên ngày 10 tháng 01 năm 2023)

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Xuân N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ