vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 26/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

*Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 15 (mười năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thụ hình (được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 01/6/2023 đến ngày 07/6/2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC KẠN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HS-ST
Ngày 26/10/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tạ Văn Tư

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hứa Đình Hiên

2. Ông Nông Văn Quân.

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Sỹ Cách - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Thêu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 10 năm 2023, Tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2023/HSST, ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Hoàng Văn T sinh ngày 22/5/1985; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn C và bà Đinh Thị H; Có vợ là Mô Thị T1 và 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 10/9/2021, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 (ba) tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định số 121a/QĐ - UBND. Ngày 10/12/2021, Hoàng Văn T chấp hành xong thời hạn giáo dục tại xã, tính đến ngày 01/6/2023 chưa hết thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/6/2023 đến ngày 07/6/2023 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn. Hiện bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 30 phút ngày 01/6/2023, tại khu vực Bến xe khách tỉnh Bắc Kạn thuộc tổ B, phường Đ, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy và Kinh tế, Công an thành phố Bắc Kạn bắt quả tang Hoàng Văn T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Hoàng Văn T 01 (một) gói được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, bên trong chứa chất bột màu trắng (Được niêm phong vào phong bì ký hiệu A1). Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ tại túi quần đằng trước bên phải Hoàng Văn T đang mặc 01 (một) xy lanh và 01 (một) lọ nước cất đều chưa qua sử dụng (Được niêm phong vào phong bì ký hiệu A2). .

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Kạn tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 có khối lượng là 0,16g (không phẩy một sáu gam). Sau khi cân, toàn bộ số chất bột màu trắng nói trên được niêm phong vào phong bì ký hiệu M1 gửi giám định; phong bì ký hiệu A1 và giấy gói cũ được niêm phong vào phong bì ký hiệu M2 bảo quản theo quy định.

Tại Kết luận giám định số 183/KTHS - MT ngày 06/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận:

- Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.

- Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu M1 có khối lượng là 0,16g (không phẩy một sáu gam).

Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu M1 còn lại: 0,14g (không phẩy một bốn gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T99 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.

Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Văn T khai nhận: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 01/6/2023, Hoàng Văn T đi bộ từ nhà ở thuộc thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Bắc Kạn đến ngã ba C thuộc xã C, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn để đón xe ô tô khách đi đến khu vực Bến xe khách tỉnh Bắc Kạn thuộc tổ B, phường Đ, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn với mục đích tìm mua ma tuý để sử dụng cho bản thân. Khi đi T có mang theo 01 (một) chiếc xy lanh và 01 (một) lọ nước cất với mục đích để sử dụng ma túy. Khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày thì Hoàng Văn T xuống đến Bến xe khách tỉnh Bắc Kạn. Tại đây, Hoàng Văn T gặp một người đàn ông tên P (không rõ họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ cụ thể), qua nói chuyện biết người này có ma túy bán nên T đã hỏi mua ma túy của người đàn ông này và được người này đồng ý. Sau đó, Hoàng Văn T đưa cho người đàn ông tên P 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), người đàn ông tên P nhận tiền và bán cho Hoàng Văn T 01 (một) gói được gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy (loại Heroine). Sau khi mua được ma túy, Hoàng Văn T cầm gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay phải và đứng đợi ở Bến xe khách tỉnh Bắc Kạn để đón xe khách đi về nhà. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Hoàng Văn T bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy, Công an thành phố Bắc Kạn phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.

Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Tại Cáo trạng số 73/CT-VKSTPBK ngày 04/10/2023 của VKSND thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Tàng Trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:

*Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 15 (mười năm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù. Hình phạt bổ sung: không áp dụng.

*Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T99; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2.

*Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo được quyền nói lời sau cùng nhưng không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Hồi 16 giờ 30 phút ngày 01/6/2023, tại khu vực tổ B, phường Đ, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, Hoàng Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,16g (không phẩy một sáu gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Cơ quan điều tra phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của Hoàng Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

... c) Hêrôin …có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam ”…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Cáo trạng số 73/CT-VKSTPBK ngày 04/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là cố ý, đã vi phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an - xã hội của địa phương. Vì vậy, phải được xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là: Người phạm tội thành khẩn khai báo; bị cáo có bố đẻ được Ban chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tặng Huy chương và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn tặng Bằng khen. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân xấu, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 (ba) tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, sau khi chấp hành xong bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm, mà vẫn tiếp tục lao vào con đường nghiện chất ma tuý, nên khi xem xét lượng hình cần phải có một hình phạt thỏa đáng tương ứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Bị cáo đã có thời gian bị tạm giữ nên được tính vào thời gian thụ hình cho bị cáo.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Hoàng Văn T vào ngày 01/6/2023, do T không biết họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để điều tra, xử lý.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo nghiện chất ma túy và không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng.

Về vật chứng trong vụ án:

+ 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T99; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2. Tất cả đều không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt và xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn và bị cáo có đơn xin miễn án phí nên miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

*Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 15 (mười năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thụ hình (được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 01/6/2023 đến ngày 07/6/2023).

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T99; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu M2; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/10/2023 giữa Công an thành phố Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn).

3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ