vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 17/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bùi Văn Th 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ

trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/9/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Th. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Thắng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bùi Văn Th 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:04/2023/HS-ST
Ngày 17/01/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Kiểm

2. Bà: Giáp Thị Hiền

Thư ký phiên toà: Ông Đặng Xuân Trường – Thẩm tra viên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Bà

Nguyễn Thị Bộ - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên

xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 113/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn Th - sinh năm 1962 Tên gọi khác: Không

- Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp:

Tự do; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: 7/10; Họ và tên cha: Bùi Thế Tấn (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1936; Vợ: Đào Thị H- sinh năm 1959 hiện ở thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1982, con nhỏ nhất sinh năm 1986.Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

- Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2013/HS-ST ngày

30/01/2013 của Tòa án nhân dân huyện Tân yên xử phạt Bùi Văn Th 02 năm 02 tháng tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, buộc phải chấp hành chung cả 02 tội là 04 năm 2 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2012; phạt bổ sung phạt tiền 5.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước và phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/12/2015, chưa chấp hành hình phạt bổ sung và chưa chấp hành xong tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Tiền sự: Không.

- Nhân thân: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 119 ngày 16/8/1986 của

Tòa án nhân dân tỉnh Hà Bắc xử phạt 10 tháng tù về tội “Đánh bạc”.

- Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/9/2022, hiện

đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang.(có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1966 (v mặt)

2. Anh Bùi Thế T, sinh năm 1984 (v mặt)

3. Chị Đặng Thị Hồng Th, sinh năm 1991 (v mặt)

Cùng ở địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn b tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 11 giờ ngày 12/9/2022, Bùi Văn Th đang điều khiển xe

mô tô nhãn hiệu Wave α màu đỏ, biển kiểm soát 20L5- 8397 đi chơi trên đoạn đường thôn N, xã S, huyện T thì gặp Nguyễn Văn Ch- sinh năm 1966 ở cùng thôn T đang điều khiển xe mô tô đi cùng chiều nên Th điều khiển xe mô tô lên gần chỗ Ch nói chuyện. Qua trao đổi nói chuyện thì Th có hỏi mua 600.000 đồng ma túy đá và ma túy hồng phiến để về sử dụng thì Ch đồng ý. Ch lấy từ túi quần ra một gói giấy màu tr rồi đút vào vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long” đưa cho Th, Th biết bên trong là ma túy Ch bán cho mình nên cầm bao thuốc lá Thăng Long rồi đưa cho Ch số tiền 600.000 đồng. Sau đó, Th để vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long” đựng ma túy trên yên xe mô tô rồi ngồi đè lên trên, điều khiển xe ra về. Khi Th đi cách vị trí mua ma túy của Ch được khoảng 200 mét thì bị lực lượng Công an huyện T phối hợp với Công an xã S, huyện T kiểm tra. Do đang tàng trữ ma túy trên xe mô tô nên Th sợ hãi, tăng ga định bỏ chạy thì bị lực lượng Công an khống chế khiến xe mô tô của Th bị đổ, vỏ bao thuốc lá “Thăng Long” đựng ma túy bị rơi xuống vành bánh xe mô tô phía sau. Sau đó Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng và lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với Th.

Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bao gồm:

- Thu giữ tại vành bánh sau của xe mô tô nhãn hiệu Wave α màu đỏ,

biển kiểm soát 20L5- 8397 do Bùi Văn Th điều khiển khi bị bắt quả tang 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long”, bên trong có 01 (một) gói giấy màu tr, bên trong gói giấy đựng 02 (hai) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, trong đó: 01 (một) túi đựng các viên nén hình tròn màu hồng đỏ; 01 (một) túi đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy, được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “QT”.

- Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái Bùi Văn Th mặc khi bị bắt quả

tang 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tr đã qua sử dụng, mặt kính có nhiều vết nứt vỡ, số IMEI1: 869106029235319, lắp sim 1 số: 0356.175.840 và sim 2 số: 0383.102.253.

- Thu giữ tại túi quần phía sau bên phải Bùi Văn Th mặc khi bị bắt quả

tang số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng chẵn).

- Bùi Văn Th tự nguyện giao nộp 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu

Wave α màu đỏ đã qua sử dụng, biển kiểm soát 20L5- 8397, số khung: RRKWCH4UM5X-004421, số máy: VTT1P52FMH-Z004421. Xe đã tiến hành kiểm tra, không phát hiện đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án.

Cùng ngày 12/9/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân

Yên ra Lệnh khám xét khẩn cấp đối với nơi ở của Bùi Văn Th. Quá trình khám xét khẩn cấp không thu giữ gì liên quan đến vụ án.

Sau khi bắt quả tang, Cơ quan điều tra tiến hành test nhanh chất ma túy

trong mẫu nước tiểu của Bùi Văn Th, kết quả Bùi Văn Th dương tính với ma túy tổng hợp

Căn cứ lời khai của Bùi Văn Th, ngày 12/9/2022, Cơ quan cảnh sát

điều tra Công an huyện Tân Yên đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn Ch, kết quả khám xét không thu giữ gì liên quan đến vụ án.

Ngày12/9/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra huyện Tân Yên, tỉnh Bắc

Giang ra Quyết định trưng cầu giám định số 170 yêu cầu giám định mẫu vật được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “QT” gửi giám định có phải là chất ma túy không? Loại ma túy gì? Có khối lượng là bao nhiêu?

Tại Kết luận giám định số 1637/KL-KTHS ngày 15/9/2022 của Phòng

kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định:

- Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu

có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, có khối lượng 1,748 gam, loại Methamphetamine.

- Các viên nén hình tròn màu hồng đỏ đựng trong 01 (một) túi nilon màu

tr một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, có khối lượng 1,638 gam, loại Methamphetamine

Quá trình điều tra Bùi Văn Th đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội

của mình.

Tại Cáo trạng số 01/CT-VKS, ngày 21/12/2022 của Viện kiểm sát nhân

dân huyện Tân Yên đã truy tố Bùi Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự

Tại phiên toà hôm nay, sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận, đại diện

Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51, Điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự, Xử phạt Bùi Văn Th từ 03 (ba) năm 06 tháng đến 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giạm giam 12- 9 - 2022.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5, Điều 249 Bộ luật hình sự xử

phạt bị cáo Bùi Văn Th 5.000.000đ nộp ngân sách nhà nước.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2,

điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì ký hiệu “QT” được niêm phong lại bằng

dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định, bên trong có mẫu chất tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định 1,683 gam.

Mẫu viên nén mầu hồng đỏ là ma túy loại Methamphetamine còn lại sau

giám định 1,577 gam.

Vỏ bao gói mẫu sau giám định.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tr đã qua sử dụng,

mặt kính có vết nứt vỡ, số IMEI1 869106029235119. Lắp 2 sim và số tiền 50.000đ đây là tài sản cá nhân bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án

Ngoài ra còn để nghị xử lý tiền án phí, quyền kháng cáo theo quy định

của pháp luật:

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái

phép chất ma túy như bản cáo trạng đã nêu, bị cáo không tranh luận gì mà chỉ đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án

đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1. ]Về Tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an

huyện Tân Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý k hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người t hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan v mặt nhưng đã có

lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Nên hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điều 292; Bộ luật tố tụng hình sự xét xử v mặt những người trên.

[2.]Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay bị cáo Bùi Văn Th đã khai nhận

về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ có sở kết luận: Hồi 11 giờ 45 phút ngày 12/9/2022, tại đoạn đường thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Công an huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang phối hợp với Công an xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang bắt quả tang Bùi Văn Th - sinh năm 1962 nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang; đang có hành vi tàng trữ 3.386 gam ma túy Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực

trách nhiệm hình sự nên có đủ cơ sở khẳng định bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Do vậy, bản Cáo trạng truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp

xâm phạm đến quyền độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Trong tình hình xã hội hiện nay, tệ nạn ma tuý đang là một trong những vấn nạn của xã hội, tệ nạn ma túy ngày càng có diễn biến phức tạp, tinh vi hơn, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến nhiều loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, suy thoái đạo đức xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là trái pháp luật và sự nguy hiểm của ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hội đồng xét xử thấy cần phải có mức án nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết

tăng nặng trách nhiệm hình sự, ngày 30/01/2013 Bùi Văn Th bị Tòa án nhân dân huyện Tân Yên xử 02 năm 02 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả 02 tội là 04 năm 02 tháng tù. Đến nay bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù, hình phạt bổ sung và tiền án phí đến nay bị cáo chưa chấp hành. Do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm, quy định tại điểm h, khoản 1, điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra,

truy tố cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy do tính chất nghiêm trọng

của hành vi, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo với xã hội trong một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Bùi Văn Th hoàn cảnh gia đình khó khăn,

đang phải nuôi mẹ già, thu nhập thấp không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra

về xử lý vật chứng là phù hợp, có cơ sở chấp nhận. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì ký hiệu “QT” được niêm phong lại bằng

dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định, bên trong có mẫu chất tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định 1,683 gam.

Mẫu viên nén mầu hồng đỏ là ma túy loại Methamphetamine còn lại sau

giám định 1,577 gam.

Vỏ bao gói mẫu sau giám định.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tr đã qua sử dụng,

mặt kính có vết nứt vỡ, số IMEI1 869106029235119. Lắp 2 sim và số tiền 50.000đ đây là tài sản cá nhân bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, tại phiên tòa bị cáo đề nghị xin lại nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu WaWe màu đỏ, gắn biển kiểm soát

20L5- 8397 là của anh Bùi Thế T và chị Đặng Thị Hồng Th là con trai và con dâu bị cáo, chị Th, anh T không được biết bị cáo sử dụng xe vào việc mua ma túy. Ngày 09/12/2022 Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh T, chị Th quản lý sử dụng là đúng quy định pháp luật.

Việc Th khai mua ma túy của anh Nguyến Văn Ch nhưng Ch không thừa

nhận bán ma túy cho bị cáo Th như Th đã khai. Cơ quan điều tra đã cho Ch đối chất cả Th và Ch vẫn giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của Th ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác thể hiện việc Ch bán ma túy cho Th nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với Nguyễn Văn Ch.

Về tiền án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a

khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Buộc bị cáo Bùi Văn Th phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng)

án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo

bản án theo luật định;

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h,

khoản 1, Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;

1. Xử phạt: Bùi Văn Th 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ

trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/9/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Th.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a

khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ký hiệu “QT” được niêm phong lại

bằng dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu giám định, bên trong có mẫu chất tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định 1,683 gam; Mẫu viên nén mầu hồng đỏ là ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định 1,577 gam; Vỏ bao gói mẫu sau giám định.

- Trả lại bị cáo Bùi Văn Th 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu

tr đã qua sử dụng, mặt kính có vết nứt vỡ, số IMEI1 869106029235119. Lắp 2 sim và 50.000đ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a

khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Buộc bị cáo Bùi Văn Th phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng)

án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành

án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 BLTTHS:

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ

ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan v mặt có quyền kháng cáo bản

án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.

Cỡ chữ