vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai Tuyên án 21/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,22 (Không phẩy hai mươi hai) gam Heroine; cùng toàn bộ niêm phong cũ đựng trong 01 (Một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, trên một mặt của bì có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu g… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mà Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN BÀN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 04 /2023/HS-ST
Ngày 21 - 02 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Nghĩa;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Thứ và bà Vũ Thị Vẻ;

- Thư ký phiên tòa: Bà Lự Thị Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 02/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2023, đối với:

Bị cáo: Mà Văn T, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1997 tại huyện V, tỉnh Lào Cai; Nơi Đăng ký HKTT: Xã C, huyện V, Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện V, Lào Cai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Xa Phó; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 9/12; Tiền sự: Có 01 tiền sự: Tại Quyết định số 35/2020/QĐ – TA ngày 03 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội đã áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng. Đến ngày 18/01/2022 thì chấp hành xong Quyết định trên; Tiền án: Không; Nhân thân: Là người nghiện chất ma túy; Con ông Mà Văn T1, sinh năm 1968 và con bà Nông Thị T, sinh năm 1968; Hiện trú tại: Thôn Đ, xã C, huyện V, tỉnh Lào Cai. Bị cáo chưa có vợ.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/10/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lương Thị C – Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung Tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Anh Hà Đức L, 1992. Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện V, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt, không có lý do.

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Thanh K, sinh năm 1967. Địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn K, huyện V, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 8 giờ 10 phút ngày 10 tháng 10 năm 2022, Công an thị trấn K tiến hành tuần tra kiểm soát trên địa bàn tổ dân phố N thì phát hiện Mà Văn T đang đứng trước cổng nghĩa trang nhân dân có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác yêu cầu T nếu có đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội về ma túy thì tự giác giao nộp. khi được yêu cầu, T đã tự khai nhận đang tàng trữ ma túy trên người. Tổ công tác đã đưa T về trụ sở làm việc và mời người chứng kiến để kiểm tra, tại đây T tự giác lấy từ trong túi áo ngực bên trái đang mặc ra 04 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục giao nộp và khai nhận là ma túy của T đi mua hộ cho người khác để sử dụng chung. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định, ngoài ra còn thu giữ của T 01 điện thoại di động Nokia loại bàn phím.

Về nguồn gốc ma túy thu giữ, T khai nhận: Vào trước thời điểm bị bắt quả tang, T đi uống thuốc Methadone tại Bệnh viện đa khoa huyện V thì gặp Hà Đức L (Sinh năm 1992, trú tại thôn N, xã K, huyện V). L đưa cho T 500.000 đồng và chiếc điện thoại trên để đi mua ma túy về sử dụng chung. T đồng ý cầm số tiền trên bắt xe ôm đến khu vực xã K mua được của một người đàn ông không quen biết 04 gói ma túy. Khi đang đứng đợi L ở khu vực cổng nghĩa trang nhân dân ở tổ dân phố N thì bị lực lượng công an kiểm tra, bắt giữ.

Tại bản kết luận giám định số 250/KL - GĐMT ngày 13/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: Số chất bột khô, màu trắng vón cục thu giữ của Mà Văn T gửi giám định có khối lượng 0,31 gam là chất ma túy Heroin.

Bản cáo trạng số: 05/CT-VKS-VB ngày 10 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Mà Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Mà Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án tóm tắt nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai trình bày quan điểm luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Mà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào điểm c khoản 1Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt Mà Văn T từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 04 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xử lý vật chứng, tuyên án phí theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử: xử phạt Mà Văn T từ 01 năm đến 01 năm 02 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo nhất trí với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về Tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Mà Văn T tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của bị cáo, người chứng kiến trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 10/10/2022, bị cáo Mà Văn T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,31 gam Heroine (Hêrôin) với mục đích để sử dụng. Vì vậy, Bản cáo trạng số 05/CT-VKS-VB ngày 10 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Mà Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hình phạt:

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Bị cáo Mà Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện chất ma túy. Đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện năm 2020, chưa được xóa tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Sau khi cân nhắc các căn cứ quyết định hình phạt đã phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Viện kiểm sát đề nghị và ý kiến của người bào chữa đề nghị xử phạt đối với bị cáo Mà Văn T là phù hợp, nên được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo sống cùng bố mẹ tại Thôn Đ, xã C. Bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy, không có tài sản gì riêng có giá trị, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng, gồm: 0,31 gam Heroine Cơ quan giám dịnh đã lưu mẫu 0,09 gam còn lại 0,22 gam Heroine hoàn lại sau giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ đã được niêm phong. Đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Đối với chiếc điện thoại Nokia loại bàn phím có lắp sim 0986.149.376 thu giữ của Mà Văn T khi bắt quả tang, bị cáo khai nhận đây là điện thoại của Hà Đức L đưa cho để liên lạc khi đi mua ma túy. Tuy nhiên L không thừa nhận nội dung trên. Cơ quan điều tra tiến hành tra cứu thông tin số thuê bao trên nhưng đến nay chưa có kết quả trả lời, nên chưa làm rõ được chủ sở hữu của chiếc điện thoại trên. Vì vậy đã tách nội dung này để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật, nên Cơ quan điều tra không đề cập giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Về tình tiết khác của vụ án: Đối với Hà Đức L là người Mà Văn T khai đã đưa tiền và điện thoại cho T đi mua ma túy về sử dụng chung, sau khi T mua được ma túy thì có liên lạc với nhau bằng điện thoại. Cơ quan điều tra đã triệu tập L để làm việc, tuy nhiên L không thừa nhận nội dung trên và không liên quan gì đến hành vi phạm tội về ma túy của T vào sáng ngày 10/10/2022 L đi uống thuốc Methadol và có cho một số người khác mượn điện thoại, nên cũng không biết ai đã dùng điện thoại của mình liên lạc với T. Ngoài lời khai của T thì không có tài liệu chứng cứ khác để buộc tội đối với L, nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Mà Văn T ngày 10/10/2022. Quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Mà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Mà Văn T 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 10/10/2022.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,22 (Không phẩy hai mươi hai) gam Heroine; cùng toàn bộ niêm phong cũ đựng trong 01 (Một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, trên một mặt của bì có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ của Mà Văn T ngày 10/10/2022 tại thị trấn K, huyện V, tỉnh Lào Cai”. Mặt còn lại của bì có các chữ ký và dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/01/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Bàn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Mà Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bán án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ

ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, điều 7, điều 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ