vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên Tuyên án 27/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HS-ST
Ngày 27-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trương Anh Tuấn Các Hội thẩm nhân dân: ông Sùng A Dinh và bà Lò Thị Dậu

- Thư ký phiên tòa: bà Lò Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2023/TLST-HS ngày 13/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-HS ngày 16/11/2023 đối với bị cáo: Họ và tên: Lò Văn N - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1979 tại huyện G, tỉnh Điện Biên. Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện G, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 5/12; con ông Lò Văn C (sinh năm 1954- đã chết); Con bà Lò Thị T (sinh năm 1957); Vợ là Lò Thị O (sinh năm 1981); Bị cáo có 04 con; Tiền án: không, Tiền sự: không. Chức vụ đảng, chính quyền: không; Nhân thân: Bị cáo nghiện chất ma túy, năm 2019 bị TAND huyện G áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Quyết định số 36/QĐ-TA ngày 26/6/2019 thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 25/6/2021, được coi là chưa bị xử lý hành chính, bị cáo chưa bị Tòa án nào xét xử. Tạm giữ từ ngày 18/8/2023 đến ngày 24/8/2023, Tạm giam từ ngày 24/8/2023 đến nay. Bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Lò Văn V- sinh năm 1999; Trú tại: Bản N, xã N, huyện G, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 18/8/2023 bị cáo Lò Văn N mượn xe mô tô của con trai là Lò Văn V, một mình điều khiển xe đi từ nhà tại bản N, xã N, huyện G, tỉnh Điện Biên đi đến tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện T để tìm mua ma túy sử dụng.

Khi đến tổ dân phố Q bị cáo gặp một người phụ nữ, bị cáo không biết tên, địa chỉ, bị cáo hỏi và mua được của người này 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng, sau khi mua được bị cáo cất giấu gói ma túy vào trong túi áo ngực đang mặc của mình và điều khiển xe đi về nhà. Khi về đến đoạn đường khu vực cầu Dốc Vàng thuộc tổ dân phố L, thị trấn T thì bị tổ công tác của Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang và thu giữ gói ma túy của bị cáo.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon bên trong có các cục chất bột màu trắng; 01 xe mô tô Win màu đen, biển kiểm soát 27Z1-097.16.

Hồi 14 giờ 45 phút ngày 18/8/2023, Cơ quan điều tra mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, xác định cục chất bột màu trắng thu giữ của Bị cáo có khối lượng 0,2099 gam; gửi toàn bộ để giám định.

Kết luận giám định số 1282/KL-PC09 ngày 23/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn N là 0,2099 gam. Mẫu các cục chất bột màu trắng thu giữ là chất ma túy: Loại Heroine; hoàn lại 0,1449 gam Heroine sau giám định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lò Văn V có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo về việc cho bị cáo mượn xe mô tô, Lò Văn V không biết bị cáo mượn xe để đi mua ma túy, do đó Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại xe mô tô cho chủ sở hữu hợp pháp.

Cáo trạng số 44/CT-VKSHTC ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo Lò Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại và đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố; Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tố tụng:

Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, xét người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và sự vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi mua và cất giấu trái phép chất ma túy trong người với mục đích để sử dụng và trên đường đi về đã bị Công an phát hiện bắt quả tang. Lời khai của Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến bắt quả tang bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả thu giữ vật chứng; biên bản xác định khối lượng và bản Kết luận giám định của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.

Có đủ cơ sở kết luận, ngày 18/8/2023 bị cáo đã một mình mua được 01 gói ma túy loại Heroine trị giá 100.000 đồng tại tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện T, sau đó bị cáo cất giấu trong người và trên đường về đã bị Công an huyện T phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã cố ý mua 0,2099 chất ma túy loại Heroine và cất giấu trái phép với mục đích để sử dụng, hành vi của bị cáo đã phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [3] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện chất ma túy, năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện G áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, bị cáo đã chấp hành xong và đã được coi là chưa bị xử lý hành chính, nhưng bị cáo vẫn tiếp tục tái nghiện và cần xem xét bị cáo có nhân thân xấu khi quyết định mức hình phạt.

Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo. [4] Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của cơ quan điều tra và qua tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có tài sản gì giá trị; bị cáo không có việc làm và thu nhập thường xuyên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận. [5] Về các vấn đề có liên quan:

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo, quá trình Điều tra và tại phiên tòa không xác định được, nên HĐXX không có cơ sở để xem xét, xử lý. [6] Về vật chứng của vụ án:

- Số ma túy còn lại 0,1449 gam Heroine là vật cấm tàng trữ, vỏ niêm phong vật chứng là vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 chiếc xe mô tô, loại xe Win màu đen, biển kiểm soát 27Z1-097.16, quá trình điều tra đã làm rõ thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Lò Văn V, Việt không biết bị cáo mượn xe để làm phương tiện đi mua ma túy, do đó Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp. [7] Về án phí:

Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo (giấy chứng nhận số 01/GCN-HN.HCN ngày 01/01/2022 của UBND xã N) nên cần miễn toàn bộ án phí cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. [8] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự 1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn N phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự,

Xử phạt bị cáo Lò Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2023. 3. Về vật chứng vụ án:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại có khối lượng 0,1449 gam Heroine, 01 vỏ niêm phong.

Số vật chứng trên cơ quan Thi hành án dân sự huyện T đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra Công an huyện và Chi cục thi hành án dân sự huyện T. 4. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án:

Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. 5. Kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/11/2023), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ