vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 24/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Phước L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Phước L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính kể từ ngày tạm giữ bị cáo ngày 22/9/2022. Xử lý vật chứng: Buộc bị cáo Huỳnh Phước L nộp số tiền 3.200.000 đồng (ba triệu hai trăm nghìn đồng) để nộp vào Ngân sách Nhà nước. Tuyên bố trả lại cho bị cáo một chiếc điện thoạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy bị cáo Huỳnh Phước L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Phước L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Sư Phạm Minh T – Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sóc Trăng; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH T
TỈNH SÓC TRĂNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HS-ST
Ngày 24-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH T, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nghiệp.

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Thị Hương Giang.

- Ông Nguyễn Công Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Mỹ Anh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Võ Thành Hay – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Huỳnh Phước L, sinh ngày 26/12/2003 tại huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng. Nơi cư trú: Ấp Trương H, xã Thạnh T, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn V và bà Ngô Thanh P; vợ con: Chưa có; tiền án: Không, tiền sự: Có 02 tiền sự tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 100/QĐ-XPVPHC ngày 26/8/2021 của Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh L, tỉnh Bạc Liêu xử phạt tiền 7.500.000 đồng về hành vi vi phạm hành chính “Không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp hạn chế tập trung đông người” trong dịch Covid – 19 và tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 100/QĐ-XPVPHC ngày 15/6/2022 của Công an huyện Vĩnh L, tỉnh Bạc Liêu xử phạt tiền 375.000 đồng về hành vi vi phạm hành chính “Sử dụng trái phép chất ma túy”; nhân thân: Không có án tích; bị bắt, tạm giữ từ ngày 22/9/2022 sau đó chuyển sang tạm giam đến nay (Bị cáo có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật Sư Phạm Minh T – Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lâm Thành L1, sinh năm 1995 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Bào L, thị trấn Phú L, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.

2. Ông Mã Anh K, sinh năm 1998 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp X, thị trấn Phú L, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.

3. Ông Lê Minh Đ, sinh năm 1999 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Đay S, xã Thạnh Q, huyện Mỹ X, tỉnh Sóc Trăng.

4. Bà Hứa Thị Yến N, sinh năm 2003 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Gia H, xã Hưng T, huyện Vĩnh L, tỉnh Bạc Liêu.

5. Bà Trần Thị Cẩm T, sinh năm 2001 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Bào L, thị trấn Phú L, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.

6. Bà Nghiêm Trúc N, sinh năm 1988 (vắng mặt).

7. Ông Nghiêm Thế C, sinh năm 1991 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Số nhà N, khóm M, phường L, thành phố Bạc L, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 05/3/2022, Lê Minh Đ có nhậu cùng với Mã Anh K tại nhà riêng của Đ. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì Đ có rủ K hùn tiền mua ma túy về sử dụng thì K đồng ý. Đức liên hệ với Huỳnh Phước L qua ứng dụng Messenger Facebook có nick là “Huynh Phuoc L”. Đ hỏi L mua tổng cộng 02 chấm Ketamine và 02 viên thuốc lắc (MDMA). L đồng ý và gọi điện cho người bán ma túy (chưa rõ nhân thân, địa chỉ) và hỏi mua số ma túy mà Đ hỏi mua, người này báo giá là: 02 chấm Ketamine giá 1.400.000 đồng và 02 viên thuốc lắc (MDMA) giá 600.000 đồng, tổng cộng số tiền là 2.000.000 đồng, L báo giá với Đ là 02 chấm Ketamine giá 1.600.000 đồng và 02 viên thuốc lắc (MDMA) giá 600.000 đồng, tổng cộng số tiền là 2.200.000 đồng để hưởng chênh lệch 200.000 đồng. Đ đồng ý mua nên L đã hẹn với người bán ma túy giao ma túy cho L tại khu vực cầu Tràng A, phường 2, thành Phố Bạc Liêu. L điều khiển xe mô tô biển số 94K1-137.97 nhãn hiệu VISION, màu trắng (do bà Nghiêm Trúc N đứng tên sở hữu) đến nơi hẹn để lấy ma túy và để lại số tiền 2.000.000 đồng, sau đó L điều khiển xe đến điểm hẹn với Đ là khu vực gần cầu Nàng R, thị trấn Phú L để giao ma túy cho Đ và lấy số tiền 2.200.000 đồng. Lần bán ma túy này L hưởng lợi 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy thì Đ và K điều khiển xe đi đến nhà của Nguyễn Thị Thu T, cùng nhau tống 03 để đi đến quán Karaoke Nhật L, thuộc ấp Xa M, thị trấn Phú L, huyện Thạnh T để cùng nhau sử dụng số ma túy vừa mua được.

Huỳnh Phước L sau khi bán ma túy cho Đ và K xong thì quay về nhà trọ ở Bạc Liêu. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì Huỳnh Phước L nhận được cuộc gọi qua ứng dụng Messenger Facebook có nick là TiRo của Lâm Thành L1 hỏi mua ma túy gồm 01 chấm Ketamine và 02 viên thuốc lắc MDMA. Phước L đồng ý và gọi điện cho người bán ma túy lúc ban đầu hỏi mua số ma túy nói trên thì người này ra giá là 01 chấm Ketamine giá 700.000 đồng, 02 viên MDMA giá 600.000 đồng, tổng cộng là 1.300.000 đồng, Huỳnh L cho Thành L1 hay và thống nhất giá là 01 chấm Ketamine giá 800.000 đồng, 02 viên MDMA giá 600.000 đồng, tổng cộng 1.400.000 đồng thì Thành L1 đồng ý nhưng nói mua thiếu, trả tiền sau và hẹn giao ma túy tại quán Karaoke Nhật L. Phước L chạy xe mô tô biển số 94K1-137.97 đến cầu Tràng A, phường X, thành Phố Bạc Liêu lấy ma túy, sau đó chở bạn gái là Hứa Thị Yến N đi Phú L giao ma túy cho Lâm Thành L1 (N không biết là L đi giao ma túy), khi chở N thì L để ma túy dưới bàn chân, bên phải. L điều khiển xe chở N đi đến gần quán Karaoke Nhật L thì Phước L gọi điện cho Thành L1 ra lộ phía trước quán Karaoke đứng đón, khi thấy Thành L1 đang đứng bên lề gần quán Karaoke thì Phước L dùng chân đẩy ma túy để ở dưới chân cho Thành L1 thấy và nhặt lên, còn Phước L thì điều khiển xe chở N quay về Bạc Liêu. Lâm Thành L1 nhận được ma túy thì đi vào quán Karaoke Nhật L chung với nhóm của mình là Lê Văn B và Trì Hà S đang ngồi đợi để cùng sử dụng ma túy.

Vào thời điểm nhóm của Đ, K, T sử dụng ma túy trùng với thời điểm nhóm của Lâm Thành L1 và B, S cũng đang vào quán Karaoke Nhật L sử dụng ma túy, nên khoảng 01 giờ sáng ngày 06/3/2022 hai nhóm này đã cùng nhau vào Phòng số 4 quán Karaoke Nhật L để ngồi chung thì bị lực lượng chức năng kiểm tra và bắt quả tang các đối tượng đang sử dụng trái phép chất ma túy nên đã lập biên bản vụ việc, thu giữ một ít bột màu trắng trên đĩa và 01 viên nén màu xanh trên nền gạch trong phòng mà các đối tượng đang sử dụng ma túy, cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành thu giữ, niêm phong và trưng cầu giám định số ma túy thu được tại hiện trường. Kết quả test nhanh các đối tượng trên đều dương tính với ma túy. Qua điều tra, các đối tượng đã khai nhận có hành vi mua ma túy của Huỳnh Phước L về sử dụng tại quán Karaoke Nhật L.

Tại Bản kết luận giám định số 22/KLMT-KTHS ngày 07/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: Mẫu chất bột màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0135 gam, loại Ketamine; mẫu viên nén màu xanh được niêm phong gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,5474 gam, loại MDMA.

Ngày 19/3/2022 Huỳnh Phước L liên hệ với Lâm Thành L1 để đòi tiền mua ma túy 1.400.000 đồng thì Thành L1 nhờ em là Trần Thị Cẩm T chuyển khoản cho Phước L số tiền 1.000.000 đồng với lý do đã bị Công an lập biên bản, B, S không đồng ý trả tiền.

Ngày 22/9/2022 Huỳnh Phước L ra đầu thú tại Công an Phường Y, thành phố Bạc L, tỉnh Bạc Liêu.

Bản Cáo trạng số 04/CT-VKSTT ngày 08/02/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh T đã truy tố Huỳnh Phước L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, phân tích, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Phước L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù. Hình phạt bổ sung không đề nghị áp dụng do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Đề nghị truy thu số tiền bị cáo bán ma túy để thu nộp ngân sách Nhà nước và trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS MAX màu trắng, bị cáo được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Luật sư Phạm Minh T trình bày quan điểm bào chữa: Thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt.

Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Phước L khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên, Kiểm sát viên, cơ quan điều tra và cơ quan Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan quan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt gồm: Hứa Thị Yến N, Trần Thị Cẩm T, Nghiêm Trúc N và Nghiêm Thế C, xét thấy những người vắng mặt đã có lời khai trước đó tại Cơ quan điều tra, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử.

Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Phước L thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Huỳnh Phước L để có tiền tiêu xài cá nhân, trong cùng ngày 05/3/2022 bị cáo đã bán ma túy hai lần, cụ thể một lần bán cho Lê Minh Đ, Mã Anh K và một lần bán cho Lâm Thành L1, số tiền thu được từ việc bán ma túy của hai lần trên là 3.200.000 đồng. Vì vậy, bản Cáo trạng số 04/CT-VKSTT ngày 08/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh T truy tố bị cáo Huỳnh Phước L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Ma túy không chỉ gây tác hại đến sức khỏe cho người sử dụng mà còn được xem là mối hiểm họa, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thấy rằng: Bị cáo 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính, trong đó có 01 lần bị xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng tránh nhiệm hình sự. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận định nêu trên, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời có xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng một hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống biết tuân thủ pháp luật và có ích cho xã hội sau này. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng do bị cáo có điều kiện khó khăn.

Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền bị cáo thu được từ việc bán ma túy 3.200.000 đồng, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự buộc bị cáo nộp 3.200.000 đồng để nộp sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với một chiếc điện thoại di động Iphone XS MAX màu trắng là tài sản của bị cáo, cơ quan điều tra không chứng minh được bị cáo dùng điện thoại này để giao dịch, trao đổi, mua bán ma túy, nên cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Do bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn nộp theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Từ những phân tích nêu trên xét đề nghị của Viện kiểm sát về áp dụng pháp luật, mức hình phạt, cũng như về xử lý vật chứng, án phí đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Lập luận của Luật sư bào chữa cho bị cáo phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, Luật sư đề nghị áp dụng mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo là chưa nghiêm, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Các đối tượng Lê Minh Đ, Mã Anh K, Lâm Thành L1, Trì Hà S, Lê Văn B, Nguyễn Thị Thu T đã được cơ quan điều tra xử lý trong vụ án khác. Riêng đối tượng bán ma túy cho bị cáo do chưa xác định được nhân thân, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Phước L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Phước L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính kể từ ngày tạm giữ bị cáo ngày 22/9/2022.

2. Xử lý vật chứng: Buộc bị cáo Huỳnh Phước L nộp số tiền 3.200.000 đồng (ba triệu hai trăm nghìn đồng) để nộp vào Ngân sách Nhà nước. Tuyên bố trả lại cho bị cáo một chiếc điện thoại di động Iphone XS MAX màu trắng (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng).

3. Về án phí: Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Huỳnh Phước L.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ