vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương Tuyên án 12/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C 24 (hai mƣơi tƣ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Duy C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH MIỆN
TỈNH HẢI DƢƠNG
________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HS-ST
Ngày: 12- 01- 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Đình Phúc, Bà Nguyễn Thị Hoài.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Hoàng Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện T, tỉnh H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh H tham gia phiên toà: Bà An Thị Hà Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2022/HSST ngày 16 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Duy C, sinh ngày 03/12/2003 tại tỉnh H. Nơi ĐKHKTT: thôn A, xã L, huyện T, tỉnh H; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc C1, con bà Nguyễn Thị Y;

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/10/2022 đến ngày 06/10/2022, chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh H. Có mặt.

- Người làm chứng:

Chị Vũ Hương N, Vắng mặt.

Chị Phạm Thị G, Vắng mặt.

Anh Nguyễn Văn Thanh M, Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 00 phút ngày 03/10/2022 tại khu vực trước cửa quán cà phê Hồng Trà, khu đô thị Hà Phương thuộc khu Lê Bình, thị trấn T, huyện T, tỉnh H, Nguyễn Duy C có hành vi bán 03 túi nilon màu trắng bên trong chứa cành, lá cây khô màu vàng nâu với giá 1.800.000 đồng cho chị Vũ Hương N, sinh năm 2003 ở thôn Hoành Bồ, xã Lê Hồng, huyện T, tỉnh H thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 03 (ba) túi nilon màu trắng, kích thước (8,0 x 5,0)cm, chứa cành, lá cây thực vật khô, màu vàng nâu trong lòng bàn tay trái của N; 02 tờ tiền Polymer, mệnh giá 500.000 đồng và 08 tờ tiền Polymer, mệnh giá 100.000 đồng trong túi quần phía trước, bên phải của C; 01 hộp hình trụ tròn, màu xanh, kích thước (5,5 x 2,5)cm, bên trong có cành, lá cây thực vật khô, màu vàng nâu trong túi áo phía trước bên phải của C; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave alpha, màu xanh đen bạc biển kiểm soát 34F1 - 386.90; 01 chiếc chìa khóa xe; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Duy C. C khai cành, lá cây khô màu vàng nâu trong 03 túi nilon và trong hộp là cần sa, C bán 03 túi cần sa cho chị N để kiếm lời.

Nguyễn Duy C khai nhận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 03/10/2022, C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 34F1 - 386.90 của C đi từ nhà mình ở thôn A, xã L, huyện T đến nhà bạn là Nguyễn Văn Thanh M, sinh năm 2004 ở cùng thôn và rủ M sang Hưng Yên chơi, M đồng ý. C điều khiển xe mô tô chở M đến khu vực cầu Cáp, xã Đoàn Đào, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên thì dừng xe. C bảo M đứng đợi, sau đó C đi bộ ra gặp một người tên Phú (không biết tuổi, địa chỉ cụ thể) đang đứng một mình ở ven đường. C mua của Phú ba túi linon bên trong có cành, lá cây cần sa khô màu vàng nâu với giá 1.500.000 đồng. Phú cầm tiền và đưa thêm cho C một hộp nhựa hình trụ tròn màu xanh, bên trong có cành, lá cây cần sa khô màu vàng nâu. C cầm ba túi cần sa và hộp nhựa đựng cần sa cất trong túi áo phía trước, bên phải đang mặc rồi đi bộ về chỗ M đứng đợi. C bảo M chở về thị trấn T, huyện T. Khi đi đến trước cửa quán cà phê Hồng Trà thuộc khu đô thị Hà Phương, thị trấn T, huyện T, C gặp chị Vũ Hương N, sinh năm 2003 ở thôn Hoành Bồ, xã Lê Hồng, huyện T và chị Phạm Thị G, sinh năm 2003 ở cùng thôn. N gọi C lại. C bảo M dừng xe. C đi bộ ra gặp N trước cửa quán Hồng Trà. N hỏi C “Anh có cần sa bán cho em ba túi?". C bảo “Có”. N hỏi “Bao nhiêu một túi?”, C bảo “Sáu trăm nghìn đồng”, N đồng ý. C lấy ba túi nilon màu trắng bên trong có cành lá cây cần sa khô trong túi áo phía trước bên phải đang mặc đưa cho N, N đưa cho C 1.800.000 đồng thì bị lực lượng Công an huyện T phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Kết luận giám định số 361/KL-KTHS ngày 04/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất dạng cành, lá cây thực vật khô, màu vàng nâu niêm phong trong các phong bì kí hiệu số 01, có tổng khối lượng là 8,184g (Tám phẩy một tám bốn gam) là ma túy, là loại cần sa. Mẫu chất dạng cành, lá cây thực vật khô, màu vàng nâu niêm phong trong các phong bì kí hiệu số 02, có khối lượng là l,300g (Một phẩy ba không không gam) là ma túy, là loại cần sa. Hoàn lại trong một phong bì niêm phong số 361/KL-KTHS(MT) bên trong chứa 7,799 gam ma túy, loại cần sa trong niêm phong ký hiệu 01; 1,188 g ma túy loại cần sa trong niêm phong ghi ký hiệu 02; 04 túi nilon màu trắng có đường viền màu đỏ ở miệng túi đựng ma túy; 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

Tại bản Cáo trạng số 02/VKS-HS ngày 15 tháng 12 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh H truy tố bị cáo Nguyễn Duy C về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh H thực hành quyền công tố, trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị HĐXX:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy C từ 24 tháng đến 27 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 03/10/2022.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

+ Tịch thu cho tiêu huỷ: 01 bì thư số 361 bên trong chứa 7,799 gam ma túy, loại cần sa trong niêm hong ký hiệu 01; 1,188 gam ma túy loại cần sa trong niêm phong ký hiệu 02; 04 túi nilon màu trắng có đường viền màu đỏ ở miêng túi đựng ma túy; 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật và 01 hộp hình trụ tròn màu xanh.

+ Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 1.800.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có;

+ Tịch thu phát mại nộp vào Ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave alpha, màu xanh đen bạc, BKS: 34F1-386.90 (kèm theo 01 chiếc chìa khóa xe, 01 Giấy chứng nhận đăng ký chiếc xe trên mang tên Nguyễn Duy C).

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 03/10/2022, tại khu vực trước cửa quán cà phê Hồng Trà, khu đô thị Hà Phương thuộc khu Lê Bình, thị trấn T, huyện T, tỉnh H, Nguyễn Duy C có hành vi bán trái phép 8,184 gam ma túy, loại cần sa cho chị Vũ Hương N, sinh năm 2003 ở thôn Hoành Bồ, xã Lê Hồng, huyện T, tỉnh H và cất giấu trái phép 1,300 gam ma túy loại cần sa để bán kiếm lời thì bị Công an huyện T, tỉnh H phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy; Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi, bị cáo đã cố ý vi phạm. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: Mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh H truy tố bị cáo Nguyễn Duy C theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Khi xem xét, quyết định hình phạt, HĐXX thấy:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng tặng TNHS.

Như vậy, bị cáo phạm vào loại tội phạm nghiêm trọng, thực hiện hành vi phạm tội giữa ban ngày thể hiện ý thức coi thường pháp luật. HĐXX cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khối lượng ma túy bị cáo mua bán không nhiều. Do vậy, HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước cũng như sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung:

Xét bị cáo đang bị tạm giam, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

+ 01 bì thư số 361 bên trong chứa 7,799 gam ma túy, loại cần sa trong niêm phong ký hiệu 01; 1,188 gam ma túy loại cần sa trong niêm phong ký hiệu 02; 04 túi nilon màu trắng có đường viền màu đỏ ở miêng túi đựng ma túy; 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật và 01 hộp hình trụ tròn màu xanh, là vật cấm lưu hành, vật dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy;

+ Số tiền 1.800.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước;

+ Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave alpha, màu xanh đen bạc, BKS: 34F1-386.90 (kèm theo 01 chiếc chìa khóa xe, 01 Giấy chứng nhận đăng ký chiếc xe trên mang tên Nguyễn Duy C) là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo, dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu phát mại nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Chị Vũ Hương N có hành vi mua 8,184g (Tám phẩy một tám bốn) gam ma túy, loại cần sa để sử dụng, khối lượng ma túy chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm; Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với chị N là có căn cứ.

Quá trình điều tra không xác định được tuổi, địa chỉ người tên Phú đã bán ma túy cho C; anh Nguyễn Văn Thanh M, chị Phạm Thị G không biết việc C mua, bán trái phép chất ma túy nên không có căn cứ xem xét xử lý.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

- Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C 24 (hai mƣơi tƣ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03/10/2022.

3. Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu cho tiêu huỷ: 01 bì thư số 361 bên trong chứa 7,799 gam ma túy, loại cần sa trong niêm hong ký hiệu 01; 1,188 gam ma túy loại cần sa trong niêm phong ký hiệu 02; 04 túi nilon màu trắng có đường viền màu đỏ ở miêng túi đựng ma túy; 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật và 01 hộp hình trụ tròn màu xanh .

+ Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 1.800.000 đồng;

+ Tịch thu phát mại nộp vào Ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave alpha, màu xanh đen bạc, BKS: 34F1-386.90 (kèm theo 01 chìa khóa xe, 01 Giấy chứng nhận đăng ký chiếc xe trên mang tên Nguyễn Duy C).

Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh H.

(Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/12/2022 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh H).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Duy C có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ