vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 12/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Điều luật áp dụng: Căn cứ Khoản 1 Điều 321; Điều 36; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điểm a, b Khoản 2, Điểm a khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thườn…

[2] Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Ngọc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Điều luật áp dụng: Căn cứ Khoản 1 Điều 321; Điều 36; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điểm a, b Khoản 2, Điểm a khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thườn…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BA
TỈNH PHÚ THỌ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HS-ST
Ngày: 12/01/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thanh Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kiều Công Ích và ông Phùng Văn Thị

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: ông Lưu Thanh Liêm - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2022/HS-ST ngày 02/12/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị N, sinh ngày 26/9/1964 tại huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố E, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Giới tính: Nữ.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;

Trình độ học vấn: 07/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do

Bố đẻ: Nguyễn Đình T (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T (đã chết); Chồng: Nguyễn Văn N (đã chết). Bị cáo có 01 con (sinh năm 1989 );

Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân 01 – Bản án HSST số 20 ngày 20/5/1994 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Hà Bắc xử phạt Nguyễn Thị N 06 tháng tù giam về tội ”Môi giới mại dâm”

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1969

Địa chỉ: Khu 17, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt)

+ Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1950

Địa chỉ: khu phố E, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)

+ Anh Trần Minh T, sinh năm 1979

Địa chỉ: Khu 13, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 30 ngày 26/9/2022, có thông tin tố giác về hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Ba phối hợp Công an xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ kiểm tra tại nhà ở của Nguyễn Thị N, sinh năm 1964, trú tại khu E, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình làm việc Ngọc thừa nhận trong ngày 26/9/2022, N đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề, hiện tại N vừa tổng hợp xong bảng đề; Ngọc tự nguyện giao nộp cho bạc gồm: Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Ba số đồ vật, tài sản liên quan đến việc đánh bạc gồm:

- 01 (Một) tờ giấy vở kẻ ngang học sinh màu trắng “Minh Châu”, hình chữ nhật, kích thước (29 x 19,5)cm, trên hai mặt của mảnh giấy có ghi các số và chữ bằng mực bút bi màu đen và màu đỏ;

01 (Một) tờ giấy vở kẻ ngang học sinh màu trắng “Minh Châu”, hình chữ mực màu đen; nhật, kích thước (29 x 19,5)cm, trên hai mặt của tờ giấy có ghi các số và chữ bằng

- 01 (một) chiếc bút bi Thiên Long vỏ màu đen, lắp ngòi mực màu đen; suốt, lẫy đóng khóa bút màu đỏ; tizz - 01 (một) chiếc bút bi Thiên Long lắp ngòi mực màu đỏ, vỏ bằng nhựa trong

01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, điện thoại gắn sim số 0368503176 và số 0396295126 đã quan sử dụng;

- 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng, số Imel 359227063241901, điện thoại không gắn sim đã qua sử dụng;

- Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 1.370.000 đồng

Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Ba đã lập biên bản sự việc đối với N về hành vi đánh bạc, tạm giữ đồ vật, tài sản liên quan.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Thị N đã khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề ngày 26/09/2022 cụ thể như sau:

Do ham lợi từ việc ghi số lô, số đề nên ngày 25/9/2022, N nảy sinh ý định tự lập bảng bán số lô, số đề cho khách tại chỗ ở của gia đình. Hàng ngày Ngọc ở nhà bán hàng tạp hoá, khi khách đến mua số lô, số đề hoặc người quen nhắn tin đến chiếc điện thoại di động của N nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A51 gắn sim số 0396295126 hoặc nhắn tin đến tài khoản Zalo “Thiên Nhi” của Ngọc mua số lô, số đề, Ngọc sẽ nhắn lại là “uk” hoặc “ok”, tức là đồng ý. Sau đó, Ngọc sử dụng các mảnh giấy vở kẻ ngang của cơ sở sản xuất “Minh Châu” và bút bi mực màu đen, màu đỏ ghi các số lô, số đề khách mua để tổng hợp theo dõi thắng thua (gọi là bảng đề). Trong ngày, 26/9/2022, Nguyễn Thị N bán số lô, số đề cụ thể như sau:

Hồi 15 giờ 39 phút, ngày 26/9/2022, Ngọc đang ở nhà thì anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1969, trú tại khu 17, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ sử dụng tài khoản Zalo của anh Hiển lưu tên danh bạ là “H” nhắn tin đến tài khoản Zalo của Ngọc là “T” để mua các số lô, số đề. Sau đó H gửi hình chụp các số lô số đề muốn mua của N 50 số đề gồm :00, 02, 03, 05, 07, 08, 11, 13, 14, 16, 19, 20, 22,25, 30, 31, 34, 35, 39, 41, 43, 44, 46, 48, 49, 50, 52, 53, 55, 57, 58, 61, 64, 66, 68, 69, 70, 75, 77, 80, 84, 85, 86, 89, 91, 93, 94, 96, 98, 99 mỗi số 50.000 đồng; số đề 20, 70 tổng là 100.000 đồng (50.000 đồng /01 số), tổng số tiền đề là 2.600.000 đồng. Số lô 14, 41 mỗi số 20 điểm; số lô 61 là 40 điểm. N bán cho anh H là 22.500 đồng/01 điểm lô, tổng 80 điểm lô H mua là 1.800.000 đồng. N nhắn tin lại cho anh H là “Uk” tức là đồng ý. Tổng tiền số lô, số đề N bán cho anh H là 4.400.000 đồng. Số tiền này H chưa trả cho Ngọc.

Hồi 16 giờ 56 phút, ngày 26/9/2022, Ngọc đang ở nhà thì Nguyễn Văn Tiến, sinh năm 1950, trú tại khu Phố E, xã M, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, sử dụng điện thoại di động của T số 0815677122 nhắn tin đến số điện thoại di động của N là 0396295126 mua số lô 59, 95 mỗi số 20 điểm, số lô 50 là 10 điểm, N bán cho Tiến 22.500 đồng/01 điểm lô. Tổng 50 điểm lô là 1.125.000 đồng. N nhắn tin lại cho anh T là “Ok”, tức là đồng ý bán các số lộ trên cho anh T. Về số tiền mua số lô T chưa trả cho N.

Hồi 17 giờ 09 phút, ngày 26/9/2022, N đang ở nhà thì Trần Minh T, sinh năm 1979, trú tại khu 13, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ sử dụng tài khoản Zalo tên “T Beo” nhắn tin đến tài khoản Zalo của N là “T mua các số 239 lô, số đề gồm: Số lô 49,94,93 mỗi số 20 điểm, số lô 71 là 50 điểm, Ngọc bán cho Tuấn 22.500 đồng/ 01 điểm lộ, tổng 110 điểm lô là 2.475.000 đồng. Các số đề gồm: 10 số: 82, 46, 64, 42, 02, 05, 50, 55, 52, 92 mỗi số 100.000 đồng; 17 số: 84, 43, 47, 93, 86, 68, 81, 63, 67, 09, 04, 45, 54, 59, 90, 95, 40 mỗi số 50.000 đồng tổng, số tiền đề là: 1.850.000 đồng. Tổng số tiền số lô, số đề Tuấn mua của Ngọc là 4.325.000 đồng. N nhắn tin lại cho anh Tuấn “uk” tức là đồng ý bán các số lô, số đề trên cho anh T. Về số tiền mua số lô, số đề anh Tuấn chưa trả cho N.

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 26/9/2022, anh Trần Văn C, sinh năm 1979, trú tại khu P, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ sử dụng điện thoại của anh C gắn sim số 0867879628 gọi điện đến số điện thoại của Ngọc là 0396295126, nội dung anh C hỏi mua số đề 33 của N với số tiền 200.000 đồng, N đồng ý. Số tiền này sau đó C đã đến gặp trả cho N. Về việc tổng hợp số đề C mua, N khai nhận đã ghi nhầm số đề C mua là 300.000 đồng trong bảng đề, thực tế Canh chỉ mua 200.000 đồng số đề trên.

Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra 02 chiếc điện thoại thu giữ của Nguyễn Thị N xác định, đối với chiếc Iphone 6 không có dữ liệu liên quan. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, gắn sim số 0368503176 và số 0396295126 xác định có các tin nhắn điện thoại, tin nhắn zalo mua bán số lô số đề của Ngọc với Nguyễn Văn H, Trần Minh T, Nguyễn Văn T như N đã khai nhận.

Ngày 26/9/2022, ngoài việc bán số lô, số đề cho anh Nguyễn Văn H, Trần Minh T, Nguyễn Văn T và anh Trần Văn C, Nguyễn Thị N còn khai nhận đã bán số lô, số đề cho một số người lạ không biết tên, địa chỉ với số tiền là 11.582.500đ (số tiền này người đánh bạc đã trả cho N). Trong đó có 3.190.000 đồng tiền số lô, số đề bán cho người lạ được N tổng hợp trong bảng đề mà Ngọc đã bán cho Nguyễn Văn H, Trần Minh T, Nguyễn Văn T trong (01 tờ giấy vở kẻ ngang học sinh màu trắng “Minh Châu”, hình chữ nhật, kích thước (29 x 19,5)cm, trên hai mặt của mảnh giấy có ghi các số và chữ bằng mực bút bi màu đen và màu đỏ); và 8.392.500 đồng tiền số lô, số đề bán cho người lạ được N tổng hợp trong bảng đề mà N đã bán cho Trần Văn C. (01 (Một) tờ giấy vở kẻ ngang học sinh màu trắng “Minh Châu”, hình chữ nhật, kích thước (29 x 19,5)cm, trên hai mặt của mảnh giấy có ghi các số và chữ bằng mực bút bi màu đen). Lời khai của N về việc bán số lô số đề cho những người không rõ tên tuổi địa chỉ là có căn cứ và phù hợp với vật chứng được thu giữ. Vì vậy, Nguyễn Thị N phải chịu trách nhiệm về số tiền đã bán số lô, số đề cho người lạ là 11.582.500 đồng. Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Thị N bán số lô, số đề trong ngày 26/9/2022 đến khi bị phát hiện là 21.632.500 đồng.

Cơ quan điều tra đã triệu tập Nguyễn Văn H, Trần Minh T, Nguyễn Văn T và anh Trần Văn C đến để làm việc. Các đối tượng đều thừa nhận do quen biết, có số điện thoại từ trước và biết được Nguyễn Thị N bán số lô, số đề tại nhà của mình nên, ngày 26/09/2022 H, T, T đã nhắn tin, C gọi điện để mua số lô, số đề của Nguyễn Thị N như N đã khai nhận ở trên. Tại cơ điều tra Nguyễn Văn H tự nguyện giao nộp: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20s gắn sim số 0860148271, tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 3.880.000 đồng. Trần Minh T tự nguyện giao nộp 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A30s, gắn sim số 0362291236; tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 3.955.000 đồng; Nguyễn Văn T tự nguyện giao nộp tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 1.125.000 đồng. Các đối tượng khai nhận khi biết N bị bắt, T và H đã xóa toàn bộ tin nhắn liên quan đến việc mua bán số lô, số đề với N; còn Nguyễn Văn T, Trần Văn C đã vứt luôn chiếc điện thoại dùng để nhắn tin mua số lô, số đề với N, cơ quan điều tra đã ra soát, truy tìm nhưng không xác định được.

Về hình thức đánh bạc các đối tượng đều khai nhận thống nhất như sau: căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày để xác định thắng, thua. Nếu người mua số đề, dây, đầu, đuôi,...trong dãy số tự nhiên từ 00 đến 99 mà trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì N phải trả cho người mua số tiền gấp 70 (Bảy mươi) lần số tiền họ mua số đề, khách mua số đề Ngọc cho hưởng tiền hoa hồng trung bình là 20%, khách chỉ phải trả cho N 80% tổng số tiền mua số đề. Với số lô N bán cho người mua 22.500 đồng /một điểm lô, nếu số lô người mua trong dãy số tự nhiên từ 00 đến 99 trùng với hai số cuối của một trong các giải kết quả xổ số thì Ngọc phải trả cho người mua 80.000 đồng /1 (một) điểm lô.

Ngoài bán số lô, số đề ngày 26/9/2022 như đã nêu trên, Nguyễn Thị N còn tự khai nhận: Ngày 25/9/2022, N đã bán số lô, số đề cho một số người không biết tên, địa chỉ với số tiền là 2.000.000đ. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày không có người dân nào trúng thưởng. Về bảng đề này Ngọc khai nhận đã đốt ngay sau khi xem kết quả.

Quá trình điều tra: Nguyễn Thị N tự nguyện giao nộp: 12.412.500 đồng, trong đó có 10.412.500 là tiền khách ghi số lô, số đề đã trả cho N ngày 26/09/2022 và 2.000.000 đồng là tiền N bán số lô, số đề cho khách ngày 25/09/2022. Nguyễn Thị N khai nhận, sau khi tổng hợp bảng số lô, số đề Ngọc không chuyển cho ai khác, Ngọc tự ôm bảng và tính toán thắng thua sau giờ kết quả xổ số mở thưởng.

Bản cáo trạng số 49/CT-VKSTB ngày 30/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Thị N về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “ Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự;

- Xử phạt Nguyễn Thị N từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ; Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng biện pháp lao động tại cộng đồng đối với bị cáo Nguyễn Thị N theo quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự

Về xử lý vật chứng:

- Đề nghị tịch thu để bán sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, gắn sim số 0368.503176 và số 0396.295.126 thu giữ của Nguyễn Thị Ngọc; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung Galaxy A20S có gắn sim số 0860148271 thu giữ của Nguyễn Văn H; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A30S có gắn sim số 0362.291.236 thu giữ của Trần Minh T.

Trả lại cho Nguyễn Thị N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 6 màu trắng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tịch thu toàn bộ số tiền 22.742.500đ để sung quỹ Nhà nước.

Thu hồi để tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 890.000.000đ.

Về án phí: bị cáo Nguyễn Thị N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

+ Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị N thừa nhận:

Ngày 26/9/2022, tại nhà ở của mình tại khu Phố E, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Thị N đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số lô, số đề cho các đối tượng Nguyễn Văn H, Trần Minh T và Trần Văn C và một số khách không quen biết với tổng số tiền là 21.632.500đ. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi Ngọc đang tổng hợp bảng đề thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Ba phát hiện, bắt quả tang.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai bị cáo khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

+ Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:

Đây là vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, gây bất bình trong nhân dân, làm mất trật tự trị an ở địa phương. Hơn nữa hành vi của bị cáo còn là mầm mống gây nên các hậu quả nghiêm trọng khác. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật; đều có điều kiện để nhận thức về pháp luật, có sức khỏe và hiểu biết xã hội nhưng đã coi thường pháp luật dẫn đến phạm tội. Vì vậy vụ án cần phải đưa ra xét xử kịp thời và nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung;

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào nhưng có nhân thân xấu, năm 1994 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh H xử phạt 06 tháng tù về tội Môi giới mại dâm (đã được xóa án tích). Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

+ Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 điều 321 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có tài sản riêng gì lớn, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp pháp luật.

Đối với hành vi đánh bạc dưới hình thức bán các số lô, số đề của Nguyễn Thị Ngọc ngày 25/9/2022: Bị cáo trình bày sự việc bán số lô, số đề cho những người lạ được số tiền là 2.000.000đ. Hành vi đánh bạc của bị cáo ngày 25/9/2022 có số tiền đánh bạc dưới 5.000.000đ, vì vậy UBND huyện Thanh Ba đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt tiền đối với Ngọc là phù hợp pháp luật.

Đối với Nguyễn Văn H, Trần Minh T, Nguyễn Văn T, Trần Văn C là những người cùng tham gia đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề của N, tuy nhiên số tiền đánh bạc của từng người chưa đủ 5.000.000đ, vì vậy Công an huyện Thanh Ba ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc là phù hợp.

Về vật chứng:

Đối với các vật chứng gồm: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, gắn sim số 0368.503176 và số 0396.295.126 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị N; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung Galaxy A20S có gắn sim số 0860148271 thu giữ của Nguyễn Văn H; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A30S có gắn sim số 0362.291.236 thu giữ của Trần Minh T: đây là các công cụ mà bị cáo N cùng những người chơi bạc sử dụng làm công cụ để phạm tội, xét tịch thu bán sung quỹ nhà nước.

Đối với 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 6 màu trắng thu giữ của Nguyễn Thị Ngọc không liên quan đến hành vi phạm tội, xét trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để thi hành án.

- Đối với số tiền 3.880.000đ của anh Nguyễn Văn H đã giao nộp: Anh H tham gia đánh bạc với bị cáo N số tiền là 4.400.000đ (số tiền này anh H chưa trả cho N), lẽ ra cần phải tịch thu số tiền 4.400.000đ để sung quỹ Nhà nước. Bị cáo N tự nguyện trích tiền hoa hồng cho anh H, vì vậy tịch thu của anh H số tiền 3.880.000đ đã tạm giữ để sung quỹ Nhà nước là phù hợp.

- Đối với số tiền anh Nguyễn Văn T tự nguyện giao nộp là 1.125.000đ: Anh T đã tham gia đánh bạc với bị cáo Ngọc số tiền trên và chưa thanh toán cho Ngọc, vì vậy cần tịch thu số tiền anh T đã nộp để sung quỹ Nhà nước là phù hợp.

- Đối với số tiền thu giữ của anh Trần Minh T là 3.955.000đ: Anh T tham gia đánh bạc với bị cáo N số tiền là 4.325.000đ (số tiền này anh T chưa trả cho N), cần phải tịch thu toàn bộ số tiền 4.325.000đ để sung quỹ Nhà nước. Do bị cáo N tự nguyện chịu nộp số tiền còn thiếu anh T chưa nộp, vì vậy tịch thu của anh T số tiền 3.955.000đ sung quỹ Nhà nước là phù hợp.

- Đối với số tiền 13.782.500đ thu giữ của Nguyễn Thị N: N đã đánh bạc tổng số tiền là 21.632.500đ. Anh T, anh T, anh H đã tự nguyện nộp tiền tham gia đánh bạc với tổng số tiền là 8.960.000đ. Vì vậy cần tịch thu số tiền bị cáo N đánh bạc là 12.672.500đ và tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.000.000đ N có được do có hành vi đánh bạc ngày 25/9/2022. Xác nhận công an thu giữ của N và Ngọc đã tự nguyện giao nộp với tổng số tiền là 13.782.500đ, cần thu hồi để tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền là 890.000đ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Điều luật áp dụng: Căn cứ Khoản 1 Điều 321; Điều 36; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điểm a, b Khoản 2, Điểm a khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

[2] Về tội danh và mức hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục các bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Thị N cho UBND xã M, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Thị N.

Các bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ trong cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần. (không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng theo quy định đối người bị bệnh hiểm nghèo, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng).

Trong thời gian cải tạo không giam giữ, người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự về cải tạo không giam giữ.

[3] Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu các vật chứng để bán sung quỹ Nhà nước gồm: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A51, gắn sim số 0368.503176 và số 0396.295.126 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị N; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung Galaxy A20S có gắn sim số 0860148271 thu giữ của Nguyễn Văn H; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A30S có gắn sim số 0362.291.236 thu giữ của Trần Minh T.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước tổng số tiền 21.632.500đ (Hai mươi mốt triệu sáu trăm ba mươi hai nghìn năm trăm đồng) (trong đó số tiền đã thu giữ của Nguyễn Thị Ngọc là 13.782.500đ (Mười ba triệu bẩy trăm tám mươi hai nghìn năm trăm đồng chẵn); của Nguyễn Văn H là 3.880.000đ (ba triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng chẵn); của Trần Minh T là 3.955.000đ (Ba triệu chín trăm năm mươi lăm nghìn đồng chẵn); của anh Nguyễn Văn T là 1.125.000đ (Một triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng chẵn).

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 6 màu trắng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Các vật chứng có tình trạng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/12/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Ba và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ)

Thu hồi đề tịch thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo Nguyễn Thị N số tiền 890.000đ (Tám trăm chín mươi nghìn đồng chẵn).

[4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo N và anh H có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông T, anh T) vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ