vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 23/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn L 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 25/10/2022. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bui Văn L - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN LẠC
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HS-ST
Ngày 23 – 02 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Doanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thanh Tân.

Bà Đinh Thị Phong.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Đinh Mạnh Cơ - Kiểm sát viên.

Ngày 23/02/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2023/TLST-HS ngày 17/01/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-HS ngày 08/02/2023 đối với bị cáo:

Bùi Văn L (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 24/4/1989 tại Tân Lạc – Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm À, xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Nghề tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Nhống và bà Bùi Thị Biền; có vợ là Nguyễn Thị Định; có hai con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 25/10/2022, bị tạm giam từ ngày 03/11/2022 đến nay, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đàm Văn Vượng – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hòa Bình; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1989; nơi cư trú: Xóm À, xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình; có mặt.

+ Người chứng kiến: Anh Bùi Văn C, sinh năm 1964; nơi cư trú: Xóm À, xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn L là người có sử dụng trái phép chất ma túy, sẵn có tiền trong người nên khoảng 12h00’ ngày 25/10/2022, Bùi Văn Lăng bắt xe buýt từ ngã ba chợ Lồ, xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình đi lên huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình nhằm mục đích tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đi đến khu vực ngã ba Tòng Đậu thì L xuống xe. Tại đây L quan sát thấy một người đàn ông (khoảng 40 tuổi, cao khoảng 1m60, dáng người gầy, da ngăm đen, đi xe máy loại Wave Honda màu xanh), có dáng vẻ bên ngoài giống người nghiện ma túy đang ngồi trên chiếc xe máy, dừng đỗ ở bên phải đường (hướng Hà Nội - Sơn La) nên L đến gần hỏi anh ta: “Anh có bán trắng (Heroine) không, lấy cho em một ít”. Anh ta trả lời: “Có, muốn lấy bao nhiêu?”. L trả lời: “Bán cho em 600.000đ”. Sau khi trao đổi, người đàn ông bảo L đứng đợi rồi điều khiển xe mô tô đi về hướng thị trấn Mai Châu. Khoảng 15 phút sau, anh ta quay lại đưa cho L 01 (một) gói nilon màu hồng, L mở ra kiểm tra thấy bên trong có 05 (năm) gói nilon màu hồng và 01 (một) gói nilon màu xanh, trong cùng các gói là ma túy loại Heroine, có 01 (một) gói trộn lẫn cả heroine và hồng phiến. L đưa cho anh ta số tiền 600.000đ như thỏa thuận, sau đó cất gói ma túy vào túi quần bên phải rồi bắt xe buýt đi về nhà.

Đến khoảng 17h30’ cùng ngày, L cầm theo 05 (năm) gói ma túy một mình điều khiển xe mô tô BKS: 22K8 - 0861 từ nhà ở xóm Ào U, xã Nhân Mỹ, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình đi tìm chỗ vắng người để sử dụng, đối với gói ma túy lẫn cả Heroine và hồng phiến được L cất giấu trong chuồng nuôi gia súc tại nhà Lăng, để nhằm mục đích khi nào cần thì lấy ra sử dụng sau. Khi L đi đến đoạn đường liên xóm thuộc địa phận xóm Bùi Nước, xã Nhân Mỹ, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình thì gặp Tổ công tác Công an huyện Tân Lạc đang làm nhiệm vụ ra tín hiệu dừng xe kiểm tra, L chấp hành hiệu lệnh và dừng xe. Biết không thể che giấu được hành vi phạm tội của mình nên L đã tự giác lấy từ trong túi quần đùi bên phải đang mặc ra 01 (một) gói nilon màu hồng, bên trong có 04 (bốn) gói nilon màu hồng và 01 (một) gói nilon màu xanh giao nộp cho Tổ công tác Công an và khai nhận các gói trên bên trong có chứa chất ma túy mục đích mang theo tìm nơi vắng người để sử dụng. Ngoài ra, L còn khai báo với Tổ công tác Công an về việc còn đang cất giấu 01 (một) gói ma túy tại nhà L. Tổ công tác Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Văn L tại xóm À, xã N, huyện T phát hiện tại vị trí lỗ viên gạch của cột chuồng nuôi gia súc nhà Bùi Văn L có 01 (một) gói nilon màu hồng, bên trong chứa chất bột màu trắng, hồng, Bùi Văn L khai nhận là ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 307/KL-KTHS, ngày 02/11/2022, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình. Kết luận về đối tượng giám định:

- Chất bột màu trắng trong các gói ký hiệu từ G1 đến G5 trong phong bì niêm phong một mặt có ghi “Vật chứng thu giữ vụ: Bùi Văn L, sinh năm 1989, nơi thường trú: xóm À, xã N, huyện Tc, tỉnh Hòa Bình có hành vi phạm tội về ma túy – Phát hiện, bắt quả tang tại đoạn đường liên xóm thuộc địa phận xóm Bùi Nước, xã Nhân Mỹ, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình ngày 25/10/2022” gửi giám định có tổng khối lượng 0,17g (Không phẩy mười bảy gam), là ma túy, loại Heroine.

- Chất bột màu trắng, hồng trong gói ký hiệu G6 trong phong bì niêm phong một mặt có ghi “Vật chứng thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở tại xóm Ào U, xã Nhân Mỹ, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình ngày 25/10/2022 của Bùi Văn L, sinh năm 1989, nơi thường trú: xóm À, xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình” gửi giám định có khối lượng 0,14g (Không phẩy mười bốn gam), là ma túy, loại Heroine và Methamphetamine.

Cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình truy tố Bùi Văn L về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng, không kêu oan.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giữ nguyên quyết định truy tố, tội danh đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Bùi Văn Lăng từ 12 đến 18 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong mẫu giám định ma túy của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình, một mặt có ghi “Mẫu vật còn lại sau khi giám định. Vụ: Bùi Văn L, sinh năm 1989 – Có hành vi phạm tội về ma túy. Xảy ra: ngày 25 tháng 10 năm 2022. tại: xã Nhân Mỹ, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình”. Mép dán có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

+ Trả lại bị cáo Bùi Văn L 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG J7 Prime, màu xám, đã qua sử dụng cũ.

Các ý kiến tranh luận:

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với tội danh và điều luật Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử khi lượng hình xem xét cho bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, chưa bị xử lý hành chính. Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn. Đề nghị xử phạt bị cáo mức thấp nhất của Viện kiểm sát đề nghị.

Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của Trợ giúp viên, không có lời bào chữa và tranh luận gì bổ sung gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình. Kính mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về gia đình và xã hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Lạc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc, Kiểm sát viên, Người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố những người tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Về căn cứ xác định tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17h45’ ngày 25/10/2022, tại đoạn đường liên xóm thuộc địa phận xóm Bùi Nước, xã Nhân Mỹ, huyện Tân Lạc, Bùi Văn L đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,31 gram, trong đó 0,17 gram là ma túy, loại Heroine trong người và 0,14 gram ma túy, loại Heroine và Methamphetamine tại nhà ở, nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Cáo trạng truy tố bị cáo theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy, biết việc tàng trữ trái chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để có ma túy sử dụng nên bị cáo đã phạm tội. Do vậy, cần có mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo đề nghị xem xét áp dụng mức án thấp nhất của Viện Kiểm sát cho bị cáo với lý do bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, chưa bị xử lý hành chính, là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn. Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn nhưng có tiền mua ma túy để sử dụng từ năm 2019 cho đến nay nên không có căn cứ áp dụng tình tiết này để cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của Viện Kiểm sát.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình; bị cáo có ông nội được Hội đồng Chính phủ tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất và bà nội được Bộ Tư lệnh Quân khu 3 cấp Giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến, quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo là người sử dụng ma túy, làm nghề tự do thu nhập không ổn định. Do vậy, Kiểm sát viên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền và các hình phạt bổ sung khác đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ vật chứng, gồm:

+ 01 (một) phong bì niêm phong mẫu giám định ma túy của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình, một mặt có ghi “Mẫu vật còn lại sau khi giám định. Vụ: Bùi Văn L, sinh năm 1989 – Có hành vi phạm tội về ma túy. Xảy ra: ngày 25 tháng 10 năm 2022. tại: xã Nhân Mỹ, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình”. Mép dán có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong. Đây là chất thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

+ 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG J7 Prime, màu xám, đã qua sử dụng cũ thu giữ của bị cáo. Xét thấy, đây là tài sản của bị cáo nhưng không liên quan đến hành vi phạm tội do vậy cần trả lại bị cáo.

+ Đối với chiếc xe mô tô BKS: 22K8-0861 của chị Nguyễn Thị Đ (vợ của bị cáo Bùi Văn L) mua nhưng chưa sang tên quyền sở hữu. Ngày 25/10/2022 bị cáo Bùi Văn L đã tự ý lấy chiếc xe môtô trên điều khiển mang theo ma túy đi tìm nơi để sử dụng nhưng chị Đ không biết. Ngày 29/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Lạc đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Nguyễn Thị Định là có căn cứ.

Về vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho Bùi Văn L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Lạc đã phối hợp với Công an xã Tòng Đậu, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được đối tượng như mô tả nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Văn L 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 25/10/2022.

3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong mẫu giám định ma túy của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình, một mặt có ghi “Mẫu vật còn lại sau khi giám định. Vụ: Bùi Văn L, sinh năm 1989 – Có hành vi phạm tội về ma túy. Xảy ra: ngày 25 tháng 10 năm 2022. tại: xã Nhân Mỹ, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình”. Mép dán có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

+ Trả lại bị cáo Bùi Văn L 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG J7 Prime, màu xám, đã qua sử dụng cũ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 09/BB-THA ngày 17/01/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Lạc với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình).

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ