vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phúc Thọ, TP. Hà Nội Tuyên án 16/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 22/9/2022 đến ngày 28/9/2022.

Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng PC09 – Công an Thành phố Hà Nội, bên trong là vật chứng vụ án, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Trần N1, Nguyễn Thế H1 – Cán bộ Công an xã PT1, Đỗ Xuân T – Người làm chứng và đương sự Nguyễn Văn H. Tịc thu phát mại xung quỹ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 22/9/2022 đến ngày 28/9/2022.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PT, TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HS-ST
Ngày: 16 - 01 - 2023

NHÂN DANH

NUỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Kiều Duy Chinh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Học.

Ông Lê Xuân Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Uyến - Thư ký tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PT, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện PT, Thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1987; trú tại: Thôn 4, xã PT1, huyện PT, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Cấn Thị H2; có vợ và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/9/2022 đến ngày 28/9/2022; bị cáo có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn B, sinh năm 1993; trú tại: Thôn 1, xã PT1, huyện PT, Thành phố Hà Nội (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo Nguyễn Văn H bản thân là người nghiện ma tuý, hiện đang điều trị uống thuốc cai nghiện tại Trung tâm điều trị Methanol ở thị xã ST, Thành phố Hà Nội. Tại đây bị cáo nghe một số người cùng điều trị uống thuốc cai nghiện nói rằng tại khu vực ngoài cổng Trung tâm, cách khoảng 150m tại đoạn ngõ đường LL thường có người bán ma tuý. Gần đây bị cáo đến khu vực trên và nhìn thấy một người đàn ông lạ mặt, giống kiểu người nghiện đứng một mình tại khu vực đường LL. Bị cáo làm quen và nói chuyện mình đang đi uống thuốc cai nghiện nhưng vẫn thèm được sử dụng ma tuý nên hỏi người đàn ông kia rằng “Gần đây có ai bán ma tuý không để mua?”, người đàn ông trả lời “Mua bao nhiêu, loại gì!”, sau đó bị cáo đã mua của người này một số lần, bị cáo không nhớ cụ thể ngày tháng.

Ngày 22/9/2022, thấy người mệt mỏi do lên cơn nghiện, bị cáo đã rủ anh B - Là bạn nghiện đi mua ma tuý để sử dụng. Anh B đồng ý và đi xe máy đến nhà bị cáo, bị cáo lấy xe máy biển kiểm soát 29L1 – 758.55 là xe của chị Cấn Thị N - Vợ bị cáo để đi cùng với anh B. Trên đường đi, anh B rẽ vào cây xăng để đổ xăng tại ngã ba CN - Thị xã ST, còn bị cáo tiếp tục đi thẳng đến cổng Trung tâm điều trị Methanol và mua của người đàn ông đã quen 200.000 đồng tiền ma tuý. Người đàn ông bảo bị cáo đưa tiền và đưa cho bị cáo 01 gói nilon màu đỏ, bên trong chứa ma tuý Heroin. Bị cáo cầm gói ma tuý trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe đi về để nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Khi đi về đến khu vực thôn 13, xã PT1, huyện PT, Thành phố Hà Nội thì gặp lực lượng Công an xã đang đi tuần tra. Vì không đội mũ bảo hiểm nên bị cáo đã bị Công an xã giữ lại, do sợ hãi nên bị cáo đã buông gói nilon xuống đường và bị bắt quả tang. Công an xã PT1 đã thu giữ được các tang vật của bị cáo và anh B gồm: Một gói nilon màu đỏ, bên trong có giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng nghi là ma tuý; một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng; một xe máy nhãn hiệu Honda SH, màu trắng đen, biển kiểm soát 29L1 – 758.55 và số tiền 485.000 đồng. Thu giữ của anh Trần Văn B một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen.

Ngày 22/9/2022, Công an xã PT1 đã bàn giao toàn bộ hồ sơ, tang vật và đối tượng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện PT, Thành phố Hà Nội để giải quyết theo thẩm quyền. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện PT, Thành phố Hà Nội ra Quyết định trưng cầu giám định đến Phòng PC09 – Công an Thành phố Hà Nội để giám định tang vật nghi vấn là ma túy đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H. Công an huyện PT, Thành phố Hà Nội đã tiến hành khám xét chỗ ở của bị cáo, quá trình khám xét không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì có liên quan đến vụ án. Ngày 29/9/2022, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội có Kết luận giám định số: 6719/KL-KTHS kết luận: Chất bột màu trắng bên trong một gói giấy bạc màu vàng, bọc ngoài nilon màu đỏ là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,206gam.

Tại bản Cáo trạng số: 01/CT-VKSPT ngày 08 tháng 12 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện PT, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; được trừ thời gian tạm giữ. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Đề nghị tịch thu tiêu hủy tang vật liên quan đến vụ án; đề nghị tịch thu phát mại xung quỹ Nhà nước hai điện thoại di động và tịch thu xung quỹ Nhà nước số tiền thu giữ của bị cáo. Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện PT, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về trình tự, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng.

. Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Do là người nghiện ma túy nên vào khoảng 08 giờ ngày 22 tháng 9 năm 2022, bị cáo Nguyễn Văn H đi từ nhà đến khu vực phường LL, thị xã ST, Thành phố Hà Nội để mua ma túy. Sau khi mua được ma túy, bị cáo đi về đến địa phận khu vực thôn 13, xã PT1, huyện PT, Thành phố Hà Nội thì bị Công an xã PT1, huyện PT, Thành phố Hà Nội đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn xã phát hiện bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy loại Hêrôin, có khối lượng là 0,206 gam mục đích là để sử dụng cho bản thân. Với hành vi như trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện PT, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét tính chất mức độ của vụ án:

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm đến việc quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, chất gây nghiện, mặt khác còn gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân dẫn đến tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, nhận thức được tác hại của ma tuý nhưng vẫn tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm nói chung.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Không có.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

. Về nhân thân:

Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

. Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có điều kiện về kinh tế để thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo qui định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

. Đối với anh Trần Văn B, sau khi đổ xăng xong anh B đi tiếp đến Trung tâm uống thuốc cai nghiện Methanol thì gặp bị cáo đi ngược ra, cả hai người không hỏi hay nói chuyện gì với nhau. Khi đến cách cổng Trung tâm uống Methanol khoảng 100m, anh B nhìn xung quanh thì thấy một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ, nhưng anh B đã mua ma tuý của người này một số lần nên anh B đi lại gặp và hỏi mua 200.000 đồng ma tuý loại Heroin. Anh B đưa tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng cho người đàn ông thì người này đưa lại cho anh B một gói nilon màu trắng, bên trong chứa ma tuý Heroin. Anh B cầm ma tuý trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe đi về. Khi về đến đoạn đường La Thành, thị xã ST, Thành phố Hà Nội giao nhau với đường LL thì gặp bị cáo, cả hai không hỏi gì nhau và tiếp tục đi về. Khi tới khu vực thôn 13, xã PT1, huyện PT, Thành phố Hà Nội thì gặp Công an xã đi tuần tra ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra, anh B liền quay xe bỏ chạy, còn bị cáo thì bị giữ lại. Anh B đi thẳng tới cánh đồng thôn Đông, xã PT1, huyện PT, Thành phố Hà Nội tìm nơi vắng người, lấy gói mua tuý vừa mua được để sử dụng, bằng hình thức hít. Ngoài ra, anh B còn xoá toàn bộ lịch sử các cuộc gọi đến và đi trong chiếc điện thoại của mình. Sau đó điều khiển xe đi về đến thôn 2, xã PT1, huyện PT, Thành phố Hà Nội thì bị Công an xã mời lên trụ sở làm việc. Khi bị triệu tập, anh B tự giác giao nộp cho Công an chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen và trình bày là chiếc điện thoại anh B sử dụng để liên lạc với bị cáo đi mua ma tuý ngày 22/9/2022. Ngày 06/10/2022 theo hồ sơ và đề nghị của cơ quan công an, Tòa án nhân dân huyện PT, Thành phố Hà Nội đã ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn B, hiện B đang chấp hành Quyết định trên tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 7 Hà Nội, thời gian chấp hành 18 tháng.

. Về nguồn gốc ma túy:

Đối với người bán ma tuý cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an phường LL, thị xã ST, Thành phố Hà Nội để tiến hành xác minh nhưng không có đối tượng nào có đặc điểm như mô tả của bị cáo, vì vậy không có căn cứ để đấu tranh, xử lý theo quy định pháp luật.

. Về vật chứng:

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA SH150 màu trắng đen, đã cũ. Biển kiểm soát 29L1 - 758.55. Căn cứ các nội dung xác minh và tài liệu thu thập có trong hồ sơ, đã xác định chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe máy trên là của chị Cấn Thị N – Là vợ bị cáo. Việc bị cáo mượn xe máy của N chỉ nói đi ra ngoài có việc, mua đồ ăn sáng, chị N không biết việc bị cáo mượn xe là đi mua ma túy. Ngày 13/10/2022, chị Cấn Thị N đã có đơn xin lại chiếc xe trên để sử dụng. Ngày 17/11/2022, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe máy có đặc điểm nêu trên cho chị Cấn Thị N, chị N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì, nên không xem xét.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPhone màu trắng thu giữ của bị cáo, đây là chiếc điện thoại dùng để liên lạc mua ma túy, nên tịch thu phát mại xung quỹ Nhà nước.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen thu giữ của anh Trần Văn B, đây là chiếc điện thoại anh B dùng để liên lạc mua ma túy nên tịch thu phát mại xung quỹ Nhà nước.

Đối với số tiền 485.000 đồng thu giữ của bị cáo, đây là tiền mục đích của bị cáo là để mua ma túy về sử dụng cho cá nhân nên tịch thu xung quỹ Nhà nước.

Đối với phong bì niêm phong dán kín của phòng PC09 - CATP Hà Nội, bên trong là vật chứng nên tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự. Căn cứ vào Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ vào khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 22/9/2022 đến ngày 28/9/2022.

Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng PC09 – Công an Thành phố Hà Nội, bên trong là vật chứng vụ án, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Phạm Trần N1, Nguyễn Thế H1 – Cán bộ Công an xã PT1, Đỗ Xuân T – Người làm chứng và đương sự Nguyễn Văn H.

Tịc thu phát mại xung quỹ Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, đã cũ và 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đã cũ.

Tịch thu xung quỹ Nhà nước số tiền 485.000 đồng (Bốn trăm tám mươi lăm nghìn đồng).

(Vật chứng do Chi cục thi hành án dân sự huyện PT, Thành phố Hà Nội quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/12/2022 và theo Giấy nộp tiền ngày 13/12/2022).

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ