vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 18/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đào Văn S 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HS-ST
Ngày: 18- 01-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Ngư và bà Nguyễn Thị Chuyên.

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Đức Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương tham gia phiên tòa: Bà Lê Phương Hoa, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2023, tại Trường Trung học phổ thông Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 122/2022/HSST ngày 23 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đào Văn S. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh ngày 05 tháng 4 năm 1991 tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi cư trú: đăng ký HKTT tại xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh T.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không. Bố đẻ: ông Đào Văn C (sinh năm 1971), mẹ đẻ: bà Đoàn Thị S1 (sinh năm 1970). Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ: Lý Thị T2 (sinh năm 1992, đã ly hôn); con: Có 01 con sinh năm 2012..

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số 49/2018/HSST ngày 31/7/2018, của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Đào Văn S 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đào Văn S chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2020.

Bị cáo bị bắt ngày 01/10/2022, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Lương. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người chứng kiến: Anh Phan Công T2, sinh năm 1983, trú tại: Xóm C, xã Ôg, huyện P, tỉnh T. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ ngày 01/10/2022 tổ công tác Công an xã Ôn Lương làm nhiệm vụ tại khu vực xóm Cây Thị, xã Ôn Lương, huyện Phú Lương, Thái Nguyên phát hiện Đào Văn S có biểu hiện liên quan đến ma túy nên đã tiến hành kiểm tra. Tại đây, tổ công tác đã thu giữ của S 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng S khai là ma túy, loại heroine, vừa mua để sử dụng; 01 lọ thủy tinh NOVOCAIN loại 3%; 01 xi lanh nhựa loại 03ml chưa sử dụng; 03 tờ tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam mệnh giá 100.000, tổng số tiền thu giữ của S là 300.000 đồng; tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WAVE, BKS: 20R1-5663. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đào Văn S, số chất bột màu trắng nghi là ma túy được thu giữ niêm phong theo quy định (ký hiệu bì niêm phong A1); lọ thủy tinh NOVOCAIN và 01 xi lanh nhựa niêm phong (ký hiệu bì niêm phong A2); số tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam được thu giữ niêm phong (ký hiệu bì niêm phong A3) đồng thời chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan CSĐT công an huyện Phú Lương để điều tra theo thẩm quyền.

Hồi 14 giờ cùng ngày tại phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Nguyên, tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng và lấy gửi mẫu giám định đối với gói chất bột màu trắng thu giữ của Đào Văn S trong bì ký hiệu A1 có tổng khối lượng là 0,102 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định (ký hiệu bì T1).

Tại bản kết luận giám định chất ma túy số: 1577/KL-KTHS ngày 10/10/2022 của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng: 0,102 gam.

Quá trình điều tra làm rõ hành vi của bị can như sau: Bản thân Đào Văn S là người nghiện ma túy, khoảng 07 giờ 30 phút ngày 01/10/2022, S một mình điều khiển xe mô tô, mang theo 01 xilanh nhựa loại 03 ml và 01 ống nước cất NOVOCAIN 3% từ nhà đi đến khu vực thị trấn Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đi đến xóm cây Thị, xã Ôn Lương, huyện Phú Lương thì S dừng xe, đi bộ tìm mua ma túy. Tại đây, S gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy loại heroine với giá 200.000 đồng. S đưa cho người đàn ông 500.000 đồng, được trả lại 03 (ba) tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. S cất tiền vào túi quần bên trái, cầm gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi lên xe mô tô về nhà thì bị công an xã Ôn Lương phát hiện bắt quả tang, thu giữ 0,102 gam heroine chưa sử dụng.

Đối với xe môtô Honda WAVE, BKS: 20R1-5663, thu giữ của Đào Văn S. Quá trình điều tra xác định, anh Lý Pha Đăng (em rể S) là chủ sở hữu, anh Đăng không biết việc S sử dụng làm phương tiện để đi mua ma túy. Ngày 08/11/2022 CQĐT đã trả lại chiếc xe cho anh Đăng để quản lý và sử dụng.

Tại Cơ quan CSĐT Đào Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định chất ma túy, lời khai của người chứng kiến.

Cáo trạng số 01/CT-VKSPL ngày 23 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Đào Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51 BLHS; xử phạt bị cáo Đào Văn S từ 30 đến 36 tháng tù; Phạt bổ sung: Không áp dụng. Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Bị cáo không tranh luận. Nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được miễn giảm án phí, hưởng mức án thấp nhất, để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Lương, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa:

Tại phiên tòa vắng mặt người chứng kiến, bị cáo không có ý kiến về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đề nghị xét xử vắng mặt người chứng kiến. Việc Tòa án xét xử vắng mặt không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đào Văn S khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 01/10/2022, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định chất ma túy, lời khai của người chứng kiến và những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đã đủ cơ sở đã xác định:

Hồi 08 giờ ngày 01/10/2022, tại xóm Cây Thị, xã Ôn Lương, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Đào Văn S có hành vi tàng trữ trái phép 0,102 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng, bị công an xã Ôn Lương, huyện Phú Lương phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo Đào Văn S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a)……

c)Heroine….có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội.

Nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, là người nghiện ma túy.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Hình phạt: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Căn cứ các quy định của Bộ luật hình sự; căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly xã hội đối với bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có công việc và thu nhập ổn định, hiện đang bị tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Biện pháp tư pháp: Vật chứng vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong ký hiệu T1 bên trong có 0,087 gam mẫu T1 và vỏ bao gói mẫu T1 hoàn trả sau giám định; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu T2 bên trong có 01 (một) vỏ bì niêm phong ký hiệu A1 và vỏ giấy gói; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có và 01 xilanh nhựa loại 3ml chưa qua sử dụng 01 ống thủy tinh bên trong có chất lỏng, vỏ ghi chữ NOVOCAIN 3%.

- Tạm giữ số tiền 300.000 đồng thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: bị cáo là cá nhân thuộc hộ nghèo, căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đào Văn S.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương tại phiên toà về điều luật áp dụng, hình phạt cũng như các vấn đề khác là phù hợp.

Trong vụ án: Về nguồn gốc ma túy và người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo vào ngày 01/10/2022, do bị cáo khai chỉ biết là nam giới, ngoài ra không biết chính xác tên, tuổi địa chỉ nên Cơ quan CSĐT sẽ tiếp tục điều tra làm rõ.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự

Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 47 BLHS; Điều 106, 135, 136, 292, 299, 331, 333 BLTTHS 2015; Luật phí, lệ phí 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt bị cáo Đào Văn S 30 (ba mươi) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/10/2022.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Biện pháp tư pháp: Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong ký hiệu T1 bên trong có 0,087 gam mẫu T1 và vỏ bao gói mẫu T1 hoàn trả sau giám định; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu T2 bên trong có 01 (một) vỏ bì niêm phong ký hiệu A1 và vỏ giấy gói; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có và 01 xilanh nhựa loại 3ml chưa qua sử dụng 01 ống thủy tinh bên trong có chất lỏng, vỏ ghi chữ NOVOCAIN 3%.

- Tạm giữ số tiền 300.000 đồng thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án. Tình trạng vật chứng như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 24/2023 ngày 06/01/2023 giữa Công an huyện Phú Lương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương.

3. Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

4. Quyền kháng cáo bản án: Thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo./.

Cỡ chữ