vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 01/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Huy T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (29/10/2022). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án HS: Nguyễn Văn T và đồng bọn - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Huy T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƯ THANH
TỈNH THANH HÓA
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HS-ST
Ngày 01 - 3 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Huy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Văn Lãm

2. Bà Lê Thị Giang

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Thanh Đại - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện như thanh, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Yến - Kiểm sát viên.

- Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần: Ông Trịnh Xuân T2 - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa.

Ngày 01 tháng 3 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa và điểm cầu thành phần đặt tại nhà tạm giữ của Công an huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2023/TLST- HS ngày 17 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 2 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn T; sinh ngày 01 tháng 4 năm 1998 tại phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa

Nơ cư trú: Phố 7, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;

Nghề nghiệp: Lao động tự do;

trình độ văn hóa: Lớp 9/12;

Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con bà Nguyễn Thị V, không xác định được bố bị cáo;

Có vợ là Nguyễn Ngọc H và 02 con sinh vào các năm 2018, 2022;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 28/6/2021 bị Công an phường Q, thành phố Sầm Sơn xử phạt hành chính về hành vi ném gạch, đất, đá vào phương tiện giao thông và vào người khác. Bị cáo chấp hành xong Quyết định xử phạt ngày 29/6/2021.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/10/2022, đến ngày 01/11/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Như Thanh.

Có mặt tại phiên tòa.

2. Hoàng Huy T2; sinh ngày 07 tháng 01 năm 1993 tại xã X, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa

Nơ cư trú: Thôn T, xã X, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa;

Nghề nghiệp: Lao động tự do;

trình độ văn hóa: Lớp 9/12;

Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Hoàng Huy T và bà Lê Thị T;

Bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/10/2022, đến ngày 29/10/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Như Thanh.

Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Hà Văn T2 - sinh ngày 24/6/2004

Địa chỉ: khu phố Q, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

Vắng mặt.

- Chị Nguyễn Ngọc H - sinh năm 1999

Địa chỉ: phố 7, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa

Vắng mặt.

- Anh Lê Duy Đ - sinh năm 1992

Địa chỉ: phố T, phường Q1, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa

Vắng mặt.

* Người tham gia tố tụng khác có mặt tại điểm cầu thành phần:

- Ông Uông Ngọc Đ - Cán bộ chiến sỹ thuộc cơ sở tạm giữ - Công an huyện Như Thanh

- Ông Tống Văn T - Cán bộ chiến sỹ thuộc cơ sở tạm giữ - Công an huyện Như Thanh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 20 phút ngày 28/10/2022, khi Hoàng Huy T2, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã X, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa đang đi chơi ở thành phố T thì nhận được cuộc gọi, tin nhắn của Hà Văn T2, sinh năm 2004 trú tại khu phố Q, thị trấn Y, huyện Như Thanh, Thanh Hóa hỏi mua ma túy loại hồng phiến. T2 đồng ý bán ma túy cho T2 với số lượng 05 viên hồng phiến với giá 100.000 đồng/01 viên và yêu cầu T2 chuyển tiền trước vào số tài khoản 7193686899999 thuộc ngân hàng MB Bank của T2. Vì không có tài khoản ngân hàng nên T2 đi đến hiệu thuốc tây của chị Phan Thị Tâm, sinh năm 1996 ở thôn H, xã H nhờ chị Tâm chuyển giúp 400.000 đồng vào số tài khoản của T2, T2 nợ lại T2 100.000 đồng. Tại thời điểm đó, do không có sẵn ma túy trong người nên T2 đã gọi điện cho bạn là Nguyễn Văn T, sinh năm 1998, trú tại Phố 7, phường Q, TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa để hỏi mua 05 viên ma túy loại hồng phiến và được T đồng ý bán. T2 hẹn gặp T ở khu vực cầu Cốc thuộc địa phận phường Đông Sơn, TP. Thanh Hóa để giao dịch mua bán ma túy. Khi gặp nhau, T bán cho T2 05 viên ma túy loại hồng phiến với giá 500.000 đồng, T2 trả cho T 100.000 đồng tiền mặt và chuyển khoản 400.000 đồng vào số tài khoản 108870563615 được mở tại ngân hàng Viettinbank của T. Saukhi mua được ma túy, T2 bắt xe khách về và hẹn gặp T2 ở ngã ba gần cầu Đồng Hơn, xã X, huyện Như Thanh, Thanh Hóa để giao dịch ma túy. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi T2 vừa xuống xe khách tại ngã ba thôn Đồng Hơn để bán ma túy cho T2 thì T2 bị tổ tuần tra Công an huyện Như Thanh và Công an xã X phát hiện, bắt giữ và thu giữ trên người T2 các vật chứng gồm: 01 túi ni long (túi Zíp) màu trắng, viền đỏ bên trong chứa 05 viên nén màu hồng, dạng hình trụ, mỗi viên có mặt nhẵn bóng, mặt còn lại có chữ “WY”; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max, màu đen, kèm thẻ sim số thuê bao 0968079398; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu xanh, kèm thẻ sim số thuê bao 0358496468.

Tại cơ quan CSĐT, T2 khai nhận mua ma túy của Nguyễn Văn T về để bán cho Hà Văn T2.

Căn cứ vào lời khai của Hoàng Huy T2 và tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 29/10/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Như Thanh đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn T, thu giữ trong người T 01 túi ni long màu trắng, có viền màu đỏ, bên trong chứa 10 viên nén màu hồng, hình trụ nghi là ma túy; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu bên ngoài ghi dòng chữ VERTU, màu vàng, gắn thẻ sim số thuê bao 0932325193, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7 Prime, màu đen gắn sim 1 số thuê bao 0333666244 và thẻ sim 2 số thuê bao 0899762141; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Future, màu trắng, không lắp biển kiểm soát, số máy: JC76E1023663, số khung: RLHJC7639KY016675. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T, Cơ quan điều tra tiếp tục thu được tại phòng ngủ của vợ chồng T 01 viên nén màu hồng, nghi là ma túy. Tại Kết luận giám định số: Tại kết luận giám định số 3725/KL-KTHS ngày 31/10/2022 và kết luận giám định số 3765/KL-KTHS ngày 01/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Toàn bộ số viên nén và chất bột màu hồng thu được trên người Hoàng Huy T2, trên người Nguyễn Văn T và nơi ở của T đều là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng cụ thể như sau: 05 viên ma túy thu trên người Hoàng Huy T2 có khối lượng 0.507 gam; 10 viên ma túy thu được trên người Nguyễn Văn T có khối lượng 1,016 gam; 01 viên ma túy thu được tại nơi ở của Vui có khối lượng 0,058 gam.

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thu thập được, Công an huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Hoàng Huy T2 và Nguyễn Văn T về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai báo, nguồn ma túy mà đối tượng bán cho Hoàng Huy T2 và số ma túy bị cáo tàng trữ là bị cáo mua của Lê Duy Đ, sinh năm 1992, trú tại khu phố T, phường Q1, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa vào chiều tối ngày 28/10/2022. Số ma túy bị cáo tàng trữ (11 viên Hồng phiến) là nhằm mục đích tiếp tục bán cho người khác để kiếm lời.

Quá trình điều tra mở rộng vụ án, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Duy Đ và áp dụng nhiều biện pháp nghiệp vụ nhưng không chứng minh được việc Lê Duy Đ có bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn T nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm đối với Lê Duy Đ.

- Đối với Hà Văn T2, việc T2 hỏi mua ma túy của T để thỏa mãn cơn nghiện, nhưng hành vi mua bán của T2 chưa hoàn thành nên cơ quan CSĐT không xử lý trách nhiệm hành chính đối với T2.

Về vật chứng của vụ án:

- 16 gói ma túy còn lại sau giám định; 04 chiếc điện thoại di động các bị cáo dùng để liên lạc mua bán ma túy và chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Future, màu trắng, không lắp biển kiểm soát, T sử dụng làm phương tiện đi bán ma túy đều được chuyển đến Chi cục THA dân sự huyện Như Thanh chờ xử lý.

- Số tiền 500.000 đồng T có được do đã bán ma túy cho Hoàng Huy T2, Cơ quan CSĐT đã tạm gửi vào tài khoản tại Kho bạc của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Như Thanh chờ xử lý;

Tại bản cáo trạng số 04/CT- VKS ngày 16/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Huy T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm đã truy tố về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17; 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo:

+ Nguyễn Văn T: từ 42 đến 48 tháng tù.

+ Hoàng Huy T2: từ 24 đến 27 tháng tù.

- Đề nghị miễn hình phạt phạt bổ sung cho các bị cáo.

- Về vật chứng, đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định;

Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước các vật chứng gồm: 04 chiếc điện thoại di động các bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội và 500.000 đồng tiền do Nguyễn Văn T phạm tội mà có;

Trả lại cho chị Nguyễn Ngọc H chiếc xe mô tô T dùng làm phương tiện đi mua bán trái phép chất ma túy.

- Về án phí: Đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà: Nguyễn Văn T và Hoàng Huy T2 đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu.

Phần tranh luận: Không ai có ý kiến tranh luận.

Nói lời sau cùng, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Như Thanh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều được coi là đúng pháp luật.

Về sự vắng mặt của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Hà Văn T2, chị Nguyễn Ngọc H, và anh Lê Duy Đ là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của anh T2, chị H và anh Đ không gây trở ngại cho việc xét xử và không anh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng; vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn T và Hoàng Huy T2 đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời trình bày của các bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xác minh tại phiên toà. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Do muốn có tiền để tiêu dùng cá nhân, Nguyễn Văn T đã mua trái phép 16 viên ma túy loại Methamphetamine có tổng khối lượng 1.581 gam về để bán kiếm lời. Vào chiều ngày 28/10/2022, T đã bán cho Hoàng Huy T2 05 viên, có tổng khối lượng 0.507 gam lấy số tiền 500.000 đồng. 11 viên ma túy còn lại, T tàng trữ trong người và nơi ở để bán cho người có nhu cầu nhằm mục đích kiếm lời. Sau khi mua được ma túy của T, T2 mang toàn bộ số ma túy trên về bán cho anh Hà Văn T2 với giá tổng cộng 500.000 đồng/viên (T2 đã nhận trước của T2 400.000 đồng). Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi T2 vừa đến ngã ba thôn Đồng Hơn để bán ma túy cho T2 thì T2 bị tổ tuần tra Công an huyện Như Thanh và Công an xã X phát hiện, bắt giữ. Như vậy tổng khối lượng chất Methamphetamine mà Nguyễn Văn T mua bán trái phép là 1.581 gam, T2 mua bán trái phép là 0.507 gam. Hành vi của Nguyễn Văn T và Hoàng Huy T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh truy tố các bị cáo theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn chính xác. Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm

.....

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. .

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự; có sức khỏe nhưng không chịu lao động để có thu nhập hợp pháp mà đã có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Các bị cáo biết rõ ma túy có tác hại nhiều mặt đến đời sống xã hội, người nghiện ma túy ngày càng ốm yếu, suy kiệt sức khỏe, tinh thần, đặc biệt việc nghiện và sử dụng bằng cách tiêm chích là một trong những nguyên nhân làm lây lan căn bệnh đại dịch HIV, AIDS và cũng là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Nhà nước đã có nhiều biện pháp tuyên truyền giáo dục nhằm ngăn chặn hoạt động liên quan đến tội phạm ma túy; bị cáo nhận thức rõ nhưng vẫn thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, làm hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần xử lý nhanh chóng kịp thời để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Trong vụ án này, cả hai bị cáo đều thực hiện tội phạm cùng loại, nhưng không có sự bạn bạc, cấu kết thể hiện ý chí cùng thực hiện tội phạm; hành vi của mỗi bị cáo là đơn lẻ nên không coi các bị cáo là đồng phạm.

Xét T2 tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của các bị cáo không có T2 tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về T2 tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là các T2 tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng theo quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo Hoàng Huy T2 có nhân thân tốt, thể hiện bị cáo không có tiền án, tiền sự, chưa lần nào bị cơ quan có thẩm quyền xử lý về hành vi vi phạm pháp luật. Bị cáo Nguyễn Văn T không có nhân thân tốt, thể hiện: Ngày 28/6/2021 bị Công an phường Q, thành phố Sầm Sơn xử phạt hành chính về hành vi ném gạch, đất, đá vào phương tiện giao thông và vào người khác. Bị cáo chấp hành xong Quyết định xử phạt ngày 29/6/2021.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi, các T2 tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải xử phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục các bị cáo thành người lương thiện.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định; gia đình bị cáo Nguyễn Văn T thuộc hộ cận nghèo; bản thân các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn, không thể tự lao động kiếm tiền trong thời gian chấp hành án. Nếu áp dụng hình phạt bổ sung thì các bị cáo sẽ khó có điều kiện chấp hành hình phạt bổ sung. Nghĩ nên miễn hình phạt bổ sung cho Nguyễn Văn T và Hoàng Huy T2 là phù hợp.

Về phần vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự cần xử lý vật chứng của vụ án như sau:

- Số ma túy còn lại sau giám định là vật bị cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;

- Số tiền 500.000 đồng là tài sản do Nguyễn Văn T phạm tội mà có nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước;

- 02 điện thoại di động của Nguyễn Văn T và 02 điện thoại di động của Hoàng Huy T2 đều được các bị cáo sử dụng làm phương tiện liên lạc mua bán trái phép chất ma túy nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Future, màu trắng, không lắp biển kiểm soát, số máy: JC76E1023663, số khung: RLHJC7639KY016675 là tài sản chung của vợ chồng Nguyễn Văn T. Chị Nguyễn Ngọc H (vợ bị cáo) không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội; chị có đơn xin nhận lại tài sản trên. Nghĩ nên trả lại cho chị H là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo Hoàng Huy T2 thuộc trường hợp phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Văn T thuộc hộ cận nghèo, tại phiên tòa, bị cáo xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án; Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị bản án theo quy định tại các Điều 331; 333; 336; 337 của bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Hoàng Huy T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (29/10/2022).

Xử phạt bị cáo Hoàng Huy T2 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (28/10/2022).

Về vật chứng: Áp dụng: Các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên:

- Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định;

- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng là tài sản do Nguyễn Văn T phạm tội mà có; lưu kèm theo hồ sơ vụ án giấy ủy nhiệm chi của Cơ quan CSĐT Công an huyện Như Thanh về khoản tiền này.

- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 04 điện thoại di động các bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội; bao gồm:

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu bên ngoài ghi dòng chữ VERTU, màu vàng, gắn thẻ sim số thuê bao 0932325193 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7 Prime, màu đen gắn sim 1 số thuê bao 0333666244 và thẻ sim 2 số thuê bao 0899762141 thu của Nguyễn Văn T;

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max, màu đen, kèm thẻ sim số thuê bao 0968079398 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu xanh, kèm thẻ sim số thuê bao 0358496468 thu của Hoàng Huy T2;

- Trả lại cho chị Nguyễn Ngọc H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Future, màu trắng, không lắp biển kiểm soát, số máy: JC76E1023663, số khung: RLHJC7639KY016675.

Các vật chứng không phải là tiền hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Thanh quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số: 07/2023/TSTV ngày 17/01/2023 giữa Đại diện Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Thanh và Cán bộ Công an huyện Như Thanh.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Nguyễn Văn T; buộc Hoàng Huy T2 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331; 333; 336; 337 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ