- Tranh chấp gì? án hình sự — "Linh Quang B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Linh Quang B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HS-ST Ngày: 16-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Út Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Huyên
Bà Đồng Khánh Hòa
- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Sinh Hà - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Thượng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Linh Quang B (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 18 tháng 10 năm 1973 tại huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khu Ch, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Linh Quang T, sinh năm 1940 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1941; Bị cáo có vợ là Doanh Thị H, sinh năm 1974 và 01 con, sinh năm 1996.
Tiền sự: Không.
Tiền án: 01 tiền án, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2020/HS-ST ngày 21/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện N, xử phạt Linh Quang B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt chính ngày 04/10/2021, chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/11/2022 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Sầm Đức T - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
- Người làm chứng: Anh Hạ Văn T, sinh năm 1985 - Địa chỉ: Thôn P, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 30 phút ngày 08/11/2022, tại đường Q thuộc Khu 2, xã V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, Tổ công tác Công an huyện N đang làm nhiệm vụ thì phát hiện bắt quả tang Linh Quang B, sinh năm 1973, trú tại Khu Ch, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, khi đang ngồi sau xe mô tô biển số đăng ký 97B1-653.09 do Hạ Văn T, sinh năm 1985, trú tại Thôn P, xã B, huyện N đang điều khiển di chuyển hướng Hà Nội - Cao Bằng. Tang vật thu giữ, tạm giữ: 01 (một) gói nhỏ ma túy (Heroine) dạng bột màu trắng được gói bằng một mảnh giấy, mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng để trong túi quần đằng trước bên trái B đang mặc trên người, tổ công tác niêm phong trong phong bì ký hiệu M3; 01 (một) gói ma túy (Heroine) dạng cục và bột màu trắng được gói bằng ba lớp, lớp ngoài cùng là một lớp băng dính màu đen, lớp thứ hai là giấy màu trắng có dòng kẻ, lớp trong cùng là túi nilon màu xanh, để trong túi quần đằng trước bên phải B đang mặc trên người, tổ công tác niêm phong trong phong bì ký hiệu M4. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu hồng, nhãn hiệu OPPO, màn hình bị nứt vỡ, đã qua sử dụng; số tiền 1.800.000 đồng; 01 (một) xe mô tô biển số đăng ký 97B1-653.09 nhãn hiệu Honda Wave màu đen trắng, kèm một chìa khóa xe. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực liên quan của Linh Quang B, không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã tiến hành mở niêm phong cân số chất màu trắng thu giữ được khi bắt quả tang đối với Linh Quang B, kết quả: Tổng khối lượng số chất màu trắng trong phong bì M3 là 0,13gam (không phẩy một ba gam), trong phong bì M4 là 0,38gam (không phẩy ba tám gam) và thử phản ứng phát hiện nhanh chất ma túy. Sau đó niêm phong lại trong 02 (hai) phong bì gửi trưng cầu giám định ký hiệu lần lượt là A1 và A2.
Tại Bản kết luận giám định số 252/KL-KTHS ngày 15/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là: 0,13g (không phẩy một ba gam); Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là: 0,38g (không phẩy ba tám gam).
Tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Linh Quang B khai nhận số ma túy Cơ quan Công an thu giữ ngày 08/11/2022 do B mua về để sử dụng cho bản thân, cụ thể: Khoảng 07 giờ sáng ngày 07/11/2022 B và T mượn xe mô tô biển số đăng ký 97B1-653.09 của Linh Quang T1, sinh năm 1996, cùng trú tại Khu Ch, xã B, huyện N, T là người điều khiển xe chở B ngồi sau xuống Trung tâm y tế huyện B, tỉnh Bắc Kạn cùng nhau uống methadone, sau khi uống methadone xong T đi ăn sáng không biết B đi đâu làm gì, còn B một mình đi ra đến cổng Trung tâm y tế huyện B thì gặp một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) B hỏi mua với người đàn ông này được 01 (một) gói ma túy với giá 500.000 đồng, sau đó B xuống dưới đường ở gần đó chia số ma túy này thành 02 (hai) gói nhỏ rồi sử dụng một phần của một gói, số ma túy còn lại của gói này cất giấu vào túi quần bên trái đằng trước B đang mặc trên người, gói ma túy còn lại cất giấu vào túi quần bên phải B đang mặc trên người rồi đi ăn sáng cùng T, sau đó hai người quay về nhà.
Đến sáng ngày 08/11/2022 B và T tiếp tục mượn xe mô tô trên, anh T điều khiển xe mô tô chở B ngồi sau xuống Trung tâm y tế huyện B cùng nhau uống methadone, khi đi B mang theo hai gói ma túy đã mua được hôm 07/11/2022 để trong túi quần, sau khi uống methadone xong T đi ăn sáng không biết B đi đâu làm gì, còn B một mình đi ra cổng Trung tâm y tế huyện B xuống dưới đường lấy gói ma túy đã dùng dở của hôm trước ra sử dụng một ít, số ma túy còn lại của gói này cất giấu trong túi quần đằng trước bên trái B đang mặc trên người rồi đi ăn sáng cùng T, sau đó hai người quay về nhà, T điều khiển xe mô tô B ngồi sau, khi đi đến đường Q thuộc Khu 2, V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn thì bị thì bị tổ công tác Công an huyện N phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ tang vật.
Anh Hạ Văn T khai nhận: Sáng ngày 07 và sáng ngày 08/11/2022 anh T điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 97B1-653.09 chở B ngồi sau xuống Trung tâm y tế huyện B cùng nhau uống methadone, sau khi uống methadol xong T đi ăn sáng, còn B đi đâu không rõ, một lúc sau thấy B đi ra ăn sáng cùng T xong rồi hai người quay về nhà. Khi đi và quay về T là người điều khiển xe mô tô, trên đường đi không thấy B gặp ai, không biết B mua và tàng trữ ma túy. Sáng 08/11/2022 khi hai người quay về đến đường quốc lộ 3 thuộc Khu 2, V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn thì bị thì bị tổ công tác Công an huyện N kiểm tra phát hiện mới biết B tàng trữ trái phép ma túy trên người, trước đó anh T không biết B đi tìm mua và tàng trữ ma túy.
Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKSNS, ngày 04 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo Linh Quang B về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Linh Quang B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử lý bị cáo như sau:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 08/11/2022.
- Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng trong vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy (Heroine) hoàn trả sau giám định, phong bì, phong bì niêm phong, giấy gói cũ, bao gói cũ, phong bì niêm phong cũ ký hiệu T195, A3, T1.
Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động; số tiền 1.800.000 đồng.
Người bào chữa cho bị cáo có bản bào chữa nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, về xử lý vật chứng. Đề nghị xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.
Bị cáo khai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố và nhất trí với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, bản bào chữa của người bào chữa; Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì. Lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai và ý kiến trong hồ sơ và có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Về tình tiết định tội, định khung hình phạt
Tại phiên tòa, bị cáo Linh Quang B khai nhận: Do nghiện ma túy nên ngày 08/11/2022, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 02 (hai) gói nhỏ ma túy (Heroine) có khối lượng (trọng lượng) là 0,51g (không phẩy năm một gam) trên người, mục đích để sử dụng cho bản thân và đã bị tổ công tác Công an huyện N, tỉnh Bắc Kạn phát hiện bắt quả tang, tiến hành thu giữ toàn bộ tang vật.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 10 giờ 30 phút, ngày 08/11/2022; biên bản khám xét lập hồi 15 giờ 10 phút, ngày 08/11/2022; biên bản mở đóng niêm phong, cân tịnh khối lượng chất bột màu trắng nghi là chất ma túy và gửi mẫu giám định ngày 08/11/2022; phù hợp với Kết luận giám định số 252/KL-KTHS ngày 15/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; phù hợp với các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị can và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không có mâu thuẫn, không làm phát sinh tình tiết, chứng cứ mới.
Vì vậy, có đầy đủ cơ sở kết luận hành vi của Linh Quang B đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Điều luật có nội dung:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…………..
c) Heroine........ có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng do ý thức coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng đạo đức, lối sống, bị cáo đã nghiện ma túy và đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,51g (không phẩy năm một gam) ma túy (Heroine).
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông, buôn bán ma túy, là nguyên nhân làm lây lan, phát sinh nhiều tệ nạn nguy hiểm xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Viện kiểm sát nhân dân huyện N quyết định truy tố bị cáo trước Tòa án để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng quy định của pháp luật, đúng với diễn biến khách quan của vụ án, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo
Bị cáo có 01 tiền án, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2020/HS-ST ngày 21/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện N, xử phạt Linh Quang B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt chính ngày 04/10/2021, chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà lại tái phạm. Do vậy, bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo có bố đẻ là ông Linh Quang T được thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì và Huy chương chiến sĩ vẻ vang. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Từ những nhận định trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Đề nghị mức hình phạt của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với mức hình phạt người bào chữa đề nghị, xét thấy bị cáo đã có 01 tiền án về cùng tội danh với mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà tiếp tục phạm tội với khối lượng ma túy tương đương nhau, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do đó, cần thiết áp dụng hình phạt cao hơn bản án trước nhằm mục đích răn đe, giáo dục bị cáo. Mức hình phạt người bào chữa đề nghị áp dụng là không đủ cơ sở chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định, bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có việc làm, thu nhập ổn định do đó, Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng trong vụ án
Số ma túy (Heroine) hoàn lại sau khi giám định, giấy gói cũ, phong bì niêm phong cũ là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 điện thoại di động, số tiền 1.800.000 đồng là của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với việc Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Linh Quang T1 01 (một) xe mô tô kèm một chìa khóa xe trong quá trình điều tra là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Các vấn đề liên quan trong vụ án
Đối với anh Hạ Văn T là người điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 97B1-653.09, khi điều khiển xe mô tô chở bị cáo ngày 07 và ngày 08/11/2022 anh T không biết việc bị cáo đi tìm mua và tàng trữ ma túy, cơ quan điều tra không đủ căn cứ xem xét xử lý. Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với anh Linh Quang T1 là người cho bị cáo và anh T mượn xe mô tô, khi cho mượn xe anh T1 không biết bị cáo đi tìm mua và tàng trữ ma túy, cơ quan điều tra không đủ căn cứ xem xét xử lý. Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) theo lời khai của bị cáo là người đã bán ma túy (Heroine) cho bị cáo ngày 07/11/2022, quá trình điều tra không xác định được danh tính, địa chỉ người đàn ông này, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ điều tra làm rõ, xử lý. Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ và có đơn xin miễn án phí. Do vậy bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)
Tuyên bố bị cáo Linh Quang B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 08/11/2022.
2. Về xử lý vật chứng trong vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
2.1. Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì dán kín niêm phong, mặt trước phong bì có ghi: T195, vụ Linh Quang B (1973), TT: Khu Ch, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- 01 (một) phong bì dán kín niêm phong, mặt trước phong bì có ghi: Giấy gói cũ, phong bì niêm phong cũ M3, M4, được niêm phong ký hiệu A3.
- 01 (một) phong bì dán kín niêm phong, mặt trước phong bì có ghi: Phong bì niêm phong cũ (đã ký hiệu M2) được cho vào phong bì niêm phong ký hiệu T1.
2.2. Trả lại cho bị cáo Linh Quang B:
- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu hồng tạm giữ của Linh Quang B ngày 08/11/2022 có trong 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu M1.
- Số tiền 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng) có trong 01 (một) phong bì dán kín niêm phong ký hiệu T2.
(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12/01/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười năm ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - VKSND tỉnh; - Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Út Lệ |