- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Giàng A D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Giàng A D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 04/2023/HS-ST Ngày 14-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M
TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Huấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lầu A Tính và ông Vi Văn Thuy
- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Văn Nam, Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện VKSND huyện M, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thương, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên.
Trong ngày 14 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện M xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Giàng A D, sinh năm 1981 tại huyện T, tỉnh Lai Châu.
Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản C 1, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: 5/12.
Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin Lành; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Giàng A S, đã chết ; Con bà: Vàng Thị M, sinh năm 1964.
Bị cáo có vợ Mùa Thị N, sinh năm 1981 và 04 con; con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2007.
Tiền án: Có một tiền án, ngày 18/3/2008, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử phạt bị cáo 17 năm tù về tội Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành hình phạt đến ngày 07/9/2019 ra trại.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bị cáo có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 06/7/2023, tạm giam từ ngày 15/7/2023 đến ngày xét xử, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 06/7/2023, Giàng A D mang theo 300.000 đồng đi bộ từ nhà ở bản C 1, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên đến bản H, xã N, huyện M để mua ma túy về sử dụng. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày bị cáo đến nơi gặp và giao dịch mua được 300.000 đồng Heroine của một người đàn ông dân tộc Mông bị cáo không rõ lai lịch. Mua được Heroine, bị cáo cho vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi bộ về nhà. Đến 19 giờ cùng ngày, bị cáo đi đến khu vực cuối bản H thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng N, huyện M kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Giàng A D đang tàng trữ tại túi quần bên trái đang mặc của bị cáo một gói Heroine có khối lượng 2,384 gam.
Cáo trạng số 53/CT-VKSMN ngày 09/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Giàng A D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tuyên phạt bị cáo Giàng A D từ 02 năm 02 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng của vụ án.
Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân huyện M tỉnh Điện Biên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về chứng cứ phạm tội:
Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 19 giờ 15 phút ngày 06/7/2023 bút lục 01, 02 chứng minh bị cáo Giàng A D bị bắt khi đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác Đồn Biên phòng N đã tạm giữ của bị cáo 01 gói ni lông màu trắng bên trong chứa các cục chất bột màu trắng nghi là Heroine.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại đồ vật tài liệu hồi 14 giờ 30 phút ngày 07/7/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M bút lục số 35 thì khối lượng vật chứng thu giữ khi bắt quả tang bị cáo Giàng A D là 2,384 gam nghi Heroine, trích 0,36 gam gửi đi giám định; trích 0,25 gam dùng test nhanh ma túy. Vật chứng còn lại 1,774 gam.
Kết luận giám định số 1156/KL-KTHS ngày 14/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên bút lục số 41 đã kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Giàng A D là 2,384 gam. Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Giàng A D gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine.
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy bị cáo Giàng A D có tội. Bị cáo đi mua ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân. Chứng cứ xác định bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp, làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Giàng A D có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Về tính chất mức độ phạm tội:
Khối lượng ma túy bị thu giữ của Giàng A D là 2,384 gam Heroine. Khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ ở trong khoảng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam. Tính chất mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.
Về nhân thân của bị cáo:
Bị cáo Giàng A D sinh sống tại xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên. Bị cáo là người nghiện ma túy nhiều năm và chưa từ bỏ được. Đây là nguyên nhân chính bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã từng trải qua thời gian cải tạo trong trại giam nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 18/3/2008, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử phạt bị cáo 17 năm tù về tội Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành hình phạt đến ngày 07/9/2019 ra trại. Ngày 06/7/2023, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng trong thời gian chưa được xóa án tích. Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát xem xét và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo nhưng vẫn phải nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cai nghiện ma túy đồng thời cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hình phạt bổ sung:
Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, tài sản trong gia đình không có gì giá trị, bị cáo không giữ chức vụ gì trong xã hội, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Giàng A D.
Về vật chứng: Vật chứng là 2,384 gam nghi Heroine, trích 0,36 gam gửi đi giám định; trích 0,25 gam dùng test nhanh ma túy. Vật chứng còn lại 1,774 gam và 01 mảnh ni lông trong suốt không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí hình sự sơ thẩm:
Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ do vậy Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí HSST cho bị cáo theo quy định tại Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Các vấn đề khác: Nguồn gốc số Heroine bị thu giữ bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Nhé không đủ cơ sở để xác minh làm rõ đối tượng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Giàng A D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Giàng A D 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ngày 06/7/2023.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 1,774 gam Heroine và 01 mảnh ni lông trong suốt là vật chứng còn lại sau khi gửi giám định và test nhanh ma túy. Vật chứng được đựng trong 01 phong bì công văn niêm phong của Công an huyện M có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng hồi 10 giờ 15 phút ngày 10/10/2023 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện M.
4. Án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho bị cáo Giàng A D.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Giàng A D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 14/11/2023.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện M; - Nhà tạm giữ Công an huyện M; - Cơ quan CSĐT Công an huyện M; - Bộ phận HSNV Công an huyện M; - Cơ quan THAHS Công an huyện M; - Chi cục THADS huyện M; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Mạnh Huấn |