vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 11/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Sơ Kết Ha H phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Xử phạt bị cáo Sơ Kết Ha H 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 11/01/2023). Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sơ Kết Ha H-Hủy hoại rừng - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sơ Kết Ha H phạm tội “Hủy hoại rừng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 243 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC DƯƠNG
TỈNH LÂM ĐỒNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HS-ST
Ngày 11 - 01 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phúc

Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Cil Gluin

+ Ông Dương Văn Nhuận

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Tỏ – Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Sơ Kết Ha H, sinh ngày 01/01/1950; tại Lâm Đồng; Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Cil; giới tính: nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kơ Să Ha P (đã chết) và bà Sơ Kết K G (đã chết); có vợ Kon Sa K’N, sinh năm 1954 và 09 con; tiền án; tiền sự: không; Hiện bị cáo đang tại ngoại và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Ngọc Hoàng Giang, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lâm Đồng, bào chữa cho bị cáo Sơ Kết Ha H; có mặt.

- Nguyên đơn dân sự: Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà; Địa chỉ: Tiểu khu 97, xã Đạ Nhim, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng, người đại diện theo pháp luật ông Lê Văn H, chức vụ: Giám đốc; người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 24/8/2022) ông Phạm Quang H; chức vụ: Phó Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Bidoup- Núi Bà; có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu năm 2020, tại vị trí lô a1, khoảnh 2, tiểu khu 124, lâm phần do Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà quản lý, thuộc địa giới hành chính xã Đạ Chais, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng, Sơ Kết Ha H đã sử dụng 01 búa chặt để chặt vào phần gốc của 39 cây thông, sau đó đổ hóa chất vào vết chặt (ken) để làm chết cây nhằm mục đích chiếm lấy đất; đồng thời, Ha H đã trồng các cây cà phê trên diện tích đất này. Đến tháng 4/2022, khi thấy các cây thông đã “ken” trước đây đã chết, Ha H dự định sẽ cưa hạ các cây thông này và một số cây thông khác trên cùng vị trí. Ngày 24/4/2022, H gặp 01 người đàn ông đang bẫy chim gần vị trí H đã “ken” cây và đã thuê người đàn ông này cưa hạ các cây thông Ha H đã “ken” trước đây và một số cây thông khác cùng vị trí này. Sáng ngày hôm sau, người đàn ông H đã thuê mang theo 01 cưa máy cầm tay và dẫn theo 04 người đàn ông khác đến, H đưa cho những người này 01 cưa máy cầm tay của H và chỉ vị trí của 39 cây thông đã chết do H đã “ken” trước đây và 15 cây thông khác tại cùng vị trí để những người này cưa hạ; H yêu cầu sau khi cưa hạ cây thì cắt thành từng lóng. Đến chiều tối cùng ngày thì 05 người này đã cưa hạ, cắt lóng hết số cây thông H yêu cầu, H đã trả công 1.250.000 đ (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) cho 05 người này.

Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 29/7/2022 đã xác định 02 vị trí bị cáo phá rừng thuộc lô a1, khoảnh 2, tiểu khu 124. Vị trí 01 có diện tích 2.045 m2, trên diện tích có 39 cây thông 3 lá bị cưa hạ, cắt thành 249 lóng, khối lượng 21,863 m3 để tại hiện trường; vị trí 02 cách vị trí (01) 12 m, có diện tích 222 m2 , trên diện tích có 15 cây thông 3 lá bị cưa hạ, cắt thành 118 lóng, khối lượng 7,592 m3 để tại hiện trường. Dấu vết cưa hạ bằng cưa máy. Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS – huyện Lạc Dương, xác định giá trị thiệt hại về lâm sản là 40.117.037 đ (bốn mươi triệu một trăm mười bảy nghìn không trăm ba mươi bảy đồng).

Văn bản số 252/VQG ngày 23/8/2022 của Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà và văn bản số 2471/SNN-KL ngày 25/10/2022 của Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tỉnh Lâm Đồng đã xác định vị trí lô a1, khoảnh 2, tiểu khu 124, lâm phần do Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà quản lý, thuộc địa giới hành chính xã Đạ Chais, huyện Lạc Dương thuộc đất lâm nghiệp, đối tượng rừng đặc dụng, hiện trạng rừng trồng gỗ núi đất (rừng thông 3 lá trồng năm 1993).

Bản cáo trạng số 01/CT-VKSLD ngày 08/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Sơ Kết Ha H về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm d khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận nội dung sự việc như bản cáo trạng đã được đại diện Viện kiểm sát công bố tại phiên tòa hôm nay; bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì nội dung bản cáo trạng và không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Nguyên đơn dân sự trình bày: bị cáo đã vào lô a1, khoảnh 2, tiểu khu 124, lâm phần do Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà quản lý, phá rừng nhằm mục đích chiếm lấy đất để trồng cây cà phê trên diện tích đất này; sau khi thực hiện hành vi vi phạm bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho Nhà nước số tiền 40.000.000 đồng; Tại phiên tòa hôm nay ông yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường tiếp số tiền 117.037 đồng; đồng thời ông không thắc mắc, khiếu nại gì nội dung bản cáo trạng và không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa hôm nay: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng số 01/CT-VKSLD ngày 08/12/2022 và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, o, s, x khoản 1 Điều 51, Điều 65, điểm d khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự ; Xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Về tang vật đề nghị tịch thu bán sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) cưa máy xăng màu đỏ, hiệu CS5991-YaTaKa, đã bị mất nắp, bộ phận lam và bộ phận máy rời nhau, cưa đã qua sử dụng, và 17,917 m3 gỗ thông 3 lá (gồm 250 lóng gỗ). Về trách nhiệm dân sự buộc bị cáo bồi thường số tiền 40.117.037 (bốn mươi triệu một trăm mười bảy nghìn không trăm ba mươi bảy đồng) để sung ngân sách Nhà nước, được trừ số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu đồng) bị cáo đã nộp bồi thường; bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 117.037 (một trăm mười bảy nghìn không trăm ba mươi bảy đồng).

Bị cáo, đại diện nguyên đơn dân sự, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: bị cáo chỉ vì nhằm mục đích có đất sản xuất để nuôi sống gia đình bị cáo; sau khi thực hiện hành vi bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; bị cáo là người già hiện nay thường xuyên đau ốm; bị cáo là người có công với cách mạng; và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ và hành vi của bị cáo áp dụng cho bị cáo một mức án thấp nhất theo đề nghị của Đại diện viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không có ý kiến, cũng như yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Tính hợp pháp của chứng cứ, tài liệu và các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và đương sự khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các chứng cứ, tài liệu được thu thập và cung cấp theo đúng quy định của pháp luật.

. Xét thấy chỉ vì muốn có đất để sản xuất, bị cáo đã đi vào lô a1, khoảnh 2, tiểu khu 124, lâm phần do Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà quản lý, thuộc địa giới hành chính xã Đạ Chais, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng và sử dụng 01 búa “ken” cây và đổ hóa chất làm chết 39 cây thông 3 lá, sau đó bị cáo thuê người cưa hạ tại vị trí 01 diện tích 2.045 m2, có 39 cây thông 3 lá, khối lượng 21,863 m3; vị trí 02 cách vị trí (01) 12 m, có diện tích 222 m2 , có 15 cây thông 3 lá, khối lượng 7,592 m3 để lấy đất canh tác; Văn bản số 2471/SNN-KL ngày 25/10/2022 của Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tỉnh Lâm Đồng đã xác định vị trí lô a1, khoảnh 2, tiểu khu 124, lâm phần do Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà quản lý, thuộc địa giới hành chính xã Đạ Chais, huyện Lạc Dương thuộc đất lâm nghiệp, đối tượng rừng đặc dụng, hiện trạng rừng trồng gỗ núi đất (rừng thông 3 lá trồng năm 1993); Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS – huyện Lạc Dương là 40.117.037 đ (bốn mươi triệu một trăm mười bảy nghìn không trăm ba mươi bảy đồng). Xét thấy những lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án; lời khai của những người tham gia tố tụng khác; Do vậy, hành vi bị cáo đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành của tội “Hủy hoại rừng” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 243 của Bộ luật hình sự.

Đối với 05 người như bị cáo trình bày tại gia đoạn điều tra; những người này được bị cáo thuê thực hiện hành vi cưa hạ, cắt lóng các cây thông, do chưa có căn cứ để xác định nhân thân, lý lịch của những người này nên Cơ quan điều tra đã tách những nội dung liên quan đến 05 người này và sẽ xử lý theo quy định khi có đủ căn cứ là đúng quy định của pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bồi thường giá trị thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; bị cáo sinh ngày 01/01/1950 hiện nay đã 73 tuổi; bị cáo là người có công với cách mạng, ngày 14/7/2005 được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; vợ bị cáo là bà Kon Sa KN được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất vào ngày 27/12/2001 và Huân chương kháng chiến hạng ba vào ngày 14/7/2005; do vậy cũng cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, o, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về quyết định hình phạt: Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, bởi lẽ, rừng là tài nguyên vô cùng quý giá của Nhà nước và là bộ phận bảo vệ môi trường sinh thái, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách cũng như công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về quản lý và bảo vệ rừng, để ngăn chặn mọi hành vi phá rừng và nhất là đối tượng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; Ngoài ra hiện nay tại địa phương, tình trạng hủy hoại rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác trái phép lâm sản diễn ra ngày càng nhiều, với tính chất ngày càng phức tạp, tinh vi mặc dù Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách để bảo vệ rừng; Tuy nhiên, tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo; Qua xem xét các ý kiến của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, nguyên đơn dân sự và đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, hiện nay đã 73 tuổi, đồng thời bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, o, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi cuộc sống cộng đồng mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo là người già trên 70 tuổi, không có thu nhập ổn định và khả năng kinh tế, nên miễn hình phạt bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 243 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Tịch thu bán sung ngân sách Nhà nước: 17,917 m3 gỗ thông 3 lá (gồm 250 lóng gỗ); 01 (một) cưa máy xăng màu đỏ, hiệu CS5991-YaTaKa, đã bị mất nắp, bộ phận lam và bộ phận máy rời nhau, cưa đã qua sử dụng.

. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường số tiền 40.117.037 (bốn mươi triệu một trăm mười bảy nghìn không trăm ba mươi bảy đồng) để sung ngân sách Nhà nước, được trừ số tiền 10.000.000 (mười triệu đồng) bị cáo đã nộp bồi thường, tại biên lai thu tiền số 0000423 ngày 16/11/2022 và 30.000.000 (ba mươi triệu đồng) bị cáo đã nộp bồi thường, tại biên lai thu tiền số 0000424 ngày 28/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Dương; bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 117.037 (một trăm mười bảy nghìn không trăm ba mươi bảy đồng).

. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người già trên 70 tuổi và có công với cách mạng đã có đơn xin giảm án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm; Do vậy căn cứ vào các quy định của pháp luật Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo; nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Sơ Kết Ha H phạm tội “Hủy hoại rừng”.

2. Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 243; Điều 38; Điều 47; điểm b, o, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 106; Điều 135, Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 584; Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Sơ Kết Ha H 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 11/01/2023).

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, vắng mặt tại nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự (Đã giải thích chế định án treo).

3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 243 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu bán sung ngân sách Nhà nước: 17,917 m3 gỗ thông 3 lá (gồm 250 lóng gỗ); 01 (một) cưa máy xăng màu đỏ, hiệu CS5991-YaTaKa, đã bị mất nắp, bộ phận lam và bộ phận máy rời nhau, cưa đã qua sử dụng. (tại biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục thi hành án huyện Lạc Dương).

5. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường số tiền 40.117.037 (bốn mươi triệu một trăm mười bảy nghìn không trăm ba mươi bảy đồng) để sung ngân sách Nhà nước, được trừ số tiền 10.000.000 (mười triệu đồng) bị cáo đã nộp bồi thường, tại biên lai thu tiền số 0000423 ngày 16/11/2022 và 30.000.000 (ba mươi triệu đồng) bị cáo đã nộp bồi thường, tại biên lai thu tiền số 0000424 ngày 28/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Dương; bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 117.037 (một trăm mười bảy nghìn không trăm ba mươi bảy đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo Sơ Kết Ha H .

7. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo; nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ