vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 22/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Minh C phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Minh C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 17/10/2022. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Minh C phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG BÔNG
TỈNH ĐẮK LẮK
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:04/2023/HS-ST
Ngày 22 – 02 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁNNHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Phạm Văn Lịch, bà Trương Thị Lệ Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Lâm Văn Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Minh C, sinh ngày 22 tháng 02 năm 1975 tại thành phố B – Đắk Lắk; Nơi cư trú: tổ dân phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Q (đã chết) và con bà Lương Thị A (đã chết); Bị cáo có vợ là Hoàng Thị D, sinh năm 1979 (đã ly hôn) và 01 con (sinh năm 2005).

Tiền án: Không.

Tiền sự: có 01 tiền sự, ngày 16/4/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố B ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 20 tháng tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đến ngày 28/6/2021 chấp hành xong, chưa được xoá tiền sự.

Nhân thân: Ngày 14/5/2002 , bị Tòa án nhân dân huyện B (nay là Tòa án nhân dân thị xã H), tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, về tội “Vi phạm quy định về khai thác và bảo vệ rừng” tại bản án số 35/HSST ngày 14/5/2002, đã chấp hành xong hình phạt và đã được xoá án tích;

Ngày 02/3/2006 bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại bản án số 31/2006/HSST ngày 02/3/2006, đã chấp hành xong hình phạt và được xoá án tích;

Ngày 28/11/2013 bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tại bản án số 99/2013/HSST ngày 28/11/2013, đã chấp hành xong hình phạt và được xoá án tích;

Ngày 28/11/2018 bị Công an phường T, thành phố B, ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã được xoá tiền sự.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/10/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Trần Thị H, sinh năm 1964 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số Đ, phường L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

- Ông Trần Đức D, sinh năm 1981 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số Đ, phường L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk

* Người làm chứng:

- Ông Vũ Hoàng Kh, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã Y, huyện K, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 17/10/2022, Trần Minh C điều khiển xe môtô biển kiểm soát 47L1-6857 đi từ nhà đến khu vực nghĩa địa trên đường P, thành phố B mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, C gặp một người đàn ông (khoảng 50 tuổi, nói giọng miền Bắc, người mập và cao khoảng 1m67, không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) và đưa số tiền 400.000 đồng, sau đó người đàn ông này chỉ C đến lấy ma túy đã có sẵn trong một túi Nylon trong suốt được để dưới một chai nước tại một bãi đất trống bên trong khu vực nghĩa địa, C bỏ vào trong túi quần bên phải phía trước của mình. Sau đó, C một mình điều khiển xe môtô đi đến xã Y, huyện K, để tìm gặp Vũ Hoàng Kh (tên thường gọi là T) để hỏi xin phụ việc múc đất bằng xe máy múc. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, C đang dừng nghỉ uống nước tại quán nước của ông Lê Chí Đ tại thôn B, xã Y, huyện K thì bị Công an huyện K kiểm tra phát hiện số ma túy đã mua trong túi quần bên phải phía trước của C.

Kết luận giám định số 1041/KL-KTHS ngày 21/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Chất bọt màu trắng chứa trong 01 gói nylon trong suốt, kích thước 1,5cmx02cm được niêm phong gửi đi giám định là Ma túy, có khối lượng 0,1157 gam, loại Heroine (Heroin). Mẫu vật còn lại sau giám định là 0,0828 gam.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐ ngày 12/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K kết luận: Xe mô tô biển kiểm soát 47L1-6857 trị giá 2.000.000 đồng;

Tại bản cáo trạng số: 03/CT-VKS – HS ngày 10/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông truy tố bị cáo Trần Minh C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai tại phiên toà là phù hợp nội dung bản cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Minh C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Minh C từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

* Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Bông đã trả lại: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đỏ đen, có số IMEI: 301014168022298 và 301014168022306, ngày 05/01/2023 cho chủ sở hữu pháp là Trần Minh C .

Đề nghị tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 xe môtô biển kiểm soát 47L1-6857 (mang tên Trần Đức D) được Trần Minh C mua lại không có giấy tờ, được sử dụng vào việc phạm tội.

Đề nghị tịch thu, tiêu huỷ 01 gói nylon (kích thước 1,5cmx02cm) trong suốt có chứa chất bọt màu trắng, giám định kết luận là Heroine (Heroin), có khối lượng là 0,1157 gam, sau khi giám định còn 0,0828 gam.

Đối với người đàn ông (có đặc điểm như bị cáo mô tả), hiện nay chưa xác định được là ai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Bông tiếp tục điều tra khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Bông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác được thu thập trong quá trình điều tra, thể hiện:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 17/10/2022, Trần Minh C điều khiển xe môtô biển kiểm soát 47L1-6857 đi từ nhà đến khu vực nghĩa địa trên đường P, thành phố B gặp và mua của một người đàn ông (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) 0,1157 gam, loại Heroine (Heroin) với số tiền 400.000 đồng để sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, C đang dừng nghỉ uống nước tại quán nước của ông Lê Chí Đ tại thôn B, xã Y, huyện K thì bị Công an huyện K phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.

Do vậy, hành vi của bị cáo Trần Minh C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

Trần Minh C, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 0,1 gam đến dưới 0,5 gam.

Xét hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, không những xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại dược chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi nên phải nhận thức được các loại dược chất ma túy đều thuộc sự độc quyền quản lý của Nhà nước, thông qua các cơ quan chức năng có thẩm quyền và phải tuân theo những trình tự, thủ tục nghiêm ngặt; mọi hành vi tàng trữ chất ma túy đều bị trừng trị nghiêm khắc. Do ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo Trần Minh C vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, cho nên bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.

Xét về nhân thân, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo có có 01 tiền sự, ngày 16/4/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố B ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 20 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong và chưa được xoá tiền sự.

Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 14/5/2002 , bị huyện B (nay là Tòa án nhân dân thị xã H), tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, về tội “Vi phạm quy định về khai thác và bảo vệ rừng” tại bản án số 35/HSST ngày 14/5/2002, đã chấp hành xong hình phạt và được xoá án tích; Ngày 02/3/2006 bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại bản án số 31/2006/HSST, đã chấp hành xong án phạt tù và được xoá án tích; Ngày 28/11/2013 bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tại bản án số 99/2013/HSST, đã chấp hành xong hình và đã được xoá án tích; Ngày 28/11/2018 bị Công an phường T, thành phố B, ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã chấp hành xong, đã được xoá tiền sự.

Như vậy bị cáo đã nhiều lần đi cải tạo tập trung và đã được giáo dục về pháp luật nhiều lần, tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học để rút ra kinh nghiệm cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện khả năng không thể tự cải tạo, thay đổi bản thân. Do đó cần thiết phải có hình phạt thật nghiêm khắc và cần phải cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp nên cần chấp nhận.

Đối với người đàn ông (khoảng 50 tuổi, nói giọng miền Bắc, người mập và cao khoảng 1m67) là người bán ma túy cho bị cáo C tại khu vực nghĩa địa trên đường P, thành phố B thì cần kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra để làm rõ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Minh C phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Minh C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 17/10/2022.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Công nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Bông đã trả lại: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đỏ đen, có số IMEI: 301014168022298 và 301014168022306, ngày 05/01/2023 cho chủ sở hữu pháp là Trần Minh C .

Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 xe môtô biển kiểm soát 47L1-6857 thuộc quản lý, sử dụng của Trần Minh C, được sử dụng vào việc phạm tội.

Tịch thu, tiêu huỷ 01 gói nylon trong suốt (kích thước 1,5cm x 02cm) chứa chất bột màu trắng là 0,0828 gam Heroin.

(Các vật chứng theo mô tả tại Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 16/01/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk)

3.Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng chẵn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ