- Tranh chấp gì? án hình sự — "Danh V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy khoản 1 Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Danh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HS-ST Ngày 17-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO - TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh.
2. Bà Nguyễn Thị Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Đức, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Bà Thị Kim Lài, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Danh V, sinh ngày 01/01/1984, nơi sinh: Gò Quao - Kiên Giang. Nơi cư trú: Khu phố PT, thị trấn GQ, huyện GQ, tỉnh Kiên Giang; CMND số: 371033518; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Mù chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh L (đã chết) và bà Phan Thị Đ, bị cáo chưa có vợ con, bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Tiền án: có 01 tiền án, ngày 18/4/2005 bị Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” có theo Bản án số 540/2005/HS-PT (chưa bồi thường dân sự và nộp án phí), tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam theo lệnh tạm giam số 25 ngày 31/8/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Gò Quao (tạm giữ từ ngày 24/8/2022), có mặt.
Người làm chứng:
1/ Bà Phan Thị Đ, sinh năm 1962. Nơi cư trú: Khu phố PT, thị trấn GQ, huyện GQ, tỉnh Kiên Giang. Có mặt
2/ Ông Trần Văn T, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Số 160, đường HS, khu phố PH1, thị trấn GQ, huyện GQ, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 24/8/2022 lực lượng Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Kiên Giang phối hợp với Công an huyện Gò Quao tiến hành bắt quả tang Danh V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà trọ Hạo Thiên thuộc khu phố Phước Hưng 1, thị trấn Gò Quao, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Tiến hành kiểm tra trên phương tiện và trên người của Danh V tạm giữ 01 (một) bịch nylon trong suốt kích thước khoảng 0,7cm x 2,7cm đã được hàn kín và quần băng keo màu đen, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể dạng rắn trong suốt không đồng nhất, 01 (một) điện thoại di động ViVo màu đen, 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Hayate biển số 59E1 – 093.53. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong tang vật tạm giữ, tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Danh V thu giữ và niêm phong gồm: 01 (một) bịch nylon có rãnh rài viền đỏ kích thước khoảng 4cm x 7,5cm bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể dạng rắn trong suốt không đồng nhất.
Vào khoảng 17 giờ 15 phút ngày 24/8/2022 Danh V từ nhà thuộc khu phố Phước Thới, thị trấn Gò Quao, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang mang theo 01 (một) bịch nylon hàn kín bên trong có chứa ma túy, được quấn băng keo màu đen giấu trong tay cầm bên trái xe mô tô của V loại xe Suzuki Hayate biển số 59E1-093.53 đến nhà trọ Hạo Thiên thuộc khu phố Phước Hưng 1, thị trấn Gò Quao, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang với mục đích thuê phòng trọ để sử dụng trái phép ma túy. Khi đến phía trước nhà trọ Hạo Thiên thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Nguồn gốc số ma túy Danh V có là do bị cáo V mua của người phụ nữ tên Ly (không rõ họ tên và địa chỉ) vào ngày 21/8/2022 tại chợ Thạnh Đông Tây, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến địa điểm thông qua người thanh niên lạ mặt với 1.000.000đ (Một triệu đồng). Tại đây người thanh niên này có đưa cho bị cáo Danh V một gói giấy báo bên trong gói giấy báo có bịch nylon, bên trong bịch nylon có chứa ma túy và 01 chiếc nỏ dùng để sử dụng ma túy, quá trình sử dụng ma túy thì chiếc nỏ đã bị thất lạc, không biết ở đâu. Quá trình khám xét khẩn cấp tại nhà Danh V lực lượng Công an phát hiện và thu giữ thêm 01 (một) bịch nylon có rãnh rài viền màu đỏ, kích thước 4cm x 7,5cm bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể dạng rắn trong suốt không đồng nhất là bịch ma túy bị cáo V mua trong ngày 21/8/2022 để dành sử dụng nhưng chưa sử dụng hết. Việc tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích Danh V để sử dụng, không nhằm vào mục đích mua bán.
Tại bản kết luận số 831/KL –KTHS ngày 31/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:
- Mẫu 01: Nhiều hạt tinh thể rắn trong suốt, không đồng nhất chứa trong một bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0950 gam.
- Mẫu 02: Nhiều hạt tinh thể rắn trong suốt, không đồng nhất chứa trong một bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0913 gam.
Tổng số chất ma túy loại Methamphetamine thu giữ gửi giám định là: 0,1863 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Hoàn lại đối tượng giám định:
- Mẫu 01: Nhiều hạt tinh thể rắn, trong suốt không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0862 gam (đựng trong hai bịch nylon) và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu vụ số: 831/Mẫu 01.
- Mẫu 02: Nhiều hạt tinh thể rắn, trong suốt không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0837 gam (đựng trong hai bịch nylon) và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu vụ số: 831/Mẫu 02.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng Kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang.
Vật chứng trong vụ án:
- Một điện thoại di động hiệu ViVo màu đen; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Hayate màu đen biển số: 59E1 – 093.53.
- Mẫu 01: Nhiều hạt tinh thể rắn, trong suốt không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0862 gam (đựng trong hai bịch nylon) và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu vụ số: 831/Mẫu 01 có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến niêm phong Nguyễn Văn Thái và hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang. Mẫu 02: Nhiều hạt tinh thể rắn, trong suốt không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0837 gam (đựng trong hai bịch nylon) và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu vụ số: 831/Mẫu 02 có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến niêm phong Nguyễn Văn Thái và hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang
Vật chứng số 01 cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành trao trả lại cho Danh Vĩnh theo biên bản ngày 03/10/2022.
Vật chứng số 02 hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao.
Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKSND-GQ ngày 29/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Danh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Danh V mức án từ 12 đến 18 tháng tù giam.
Các biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Gò Quao. Tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định gồm: Mẫu 01: Nhiều hạt tinh thể rắn, trong suốt không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0862 gam (đựng trong hai bịch nylon) và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu vụ số: 831/Mẫu 01 có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến niêm phong Nguyễn Văn Thái và hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang. Mẫu 02: Nhiều hạt tinh thể rắn, trong suốt không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0837 gam (đựng trong hai bịch nylon) và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu vụ số: 831/Mẫu 02 có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến niêm phong Nguyễn Văn Thái và hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
Bị cáo thừa nhận hành vi của mình như Cáo trạng truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Kiên Giang, Cơ quan điều tra- Công an huyện Gò Quao, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.
Sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người làm chứng ông Trần Văn T có đơn xin vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của người làm chứng nhưng trước đó đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng của vụ án, kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 24/8/2022, tại khu phố Phước Thới, thị trấn Gò Quao, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, lực lượng Công an huyện Gò Quao bắt quả tang bị cáo Danh V đang tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine đựng trong 02 bịch Nylon được cất giấu trong tay cầm bên trái của xe môtô và chỗ ở của V, có tổng khối lượng là 0,1863 gam.
Tại Điều 249 Bộ luật hình sự quy định tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;
c) Herôine, Côcaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...”.
Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao truy tố bị cáo Danh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Danh V là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo nhận thức được ma túy là chất nhà nước cấm mua bán, tang trữ, sử dụng, hành vi của bị cáo đã vi phạm chính sách quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương, là một trong những nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội, làm gánh nặng cho xã hội, bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo còn một tiền án chưa được xóa án tích theo Bản án số 540/2005/HS-PT ngày 18/4/2005 của Tòa Phúc thẩm - Tòa án nhân dân tối cao xử phạt bị cáo 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với đối tượng đã bán trái phép chất ma túy cho Danh V nhưng hiện nay cơ quan không xác định được họ tên và địa chỉ, vì vậy tách ra sau khi làm rõ sẽ xử lý sau.
Về vật chứng trong vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy 02 mẫu vật còn lại sau giám định gồm: Mẫu 01: Nhiều hạt tinh thể rắn, trong suốt không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0862 gam (đựng trong hai bịch nylon) và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu vụ số: 831/Mẫu 01; Mẫu 02: Nhiều hạt tinh thể rắn, trong suốt không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0837 gam (đựng trong hai bịch nylon) và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu vụ số: 831/Mẫu 02, có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến niêm phong Nguyễn Văn Thái và hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Danh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Danh V 18 (mười tám) tháng tù. Thời điểm chấp hành án tính từ ngày 24/8/2022.
Các biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Gò Quao trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp Danh V theo biên bản ngày 03/10/2022.
- Tịch thu tiêu hủy 02 mẫu vật còn lại sau giám định gồm: Mẫu 01: Nhiều hạt tinh thể rắn, trong suốt không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0862 gam (đựng trong hai bịch nylon) và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu vụ số: 831/Mẫu 01; Mẫu 02: Nhiều hạt tinh thể rắn, trong suốt không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon còn lại sau giám định có khối lượng là 0,0837 gam (đựng trong hai bịch nylon) và bao gói đựng mẫu được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu vụ số: 831/Mẫu 02, có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến niêm phong Nguyễn Văn Thái và hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Danh V phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Viện KSND huyện Gò Quao; - Công an tỉnh Kiên Giang (PV06); - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; - Chi cục THADS huyện Gò Quao; - Bị cáo; - Lưu: HSVA. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tôn Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |