vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 12/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội: "Đánh bạc”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng văn H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội: "Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HS-ST
Ngày 12/01/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Khánh.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nông Thị Quyên;

2. Bà Lương Thị Bông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Huế – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 12/01/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2022/ TLST- HS ngày 23 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn H (Không có tên gọi khác), sinh năm 1969, tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi cư trú: Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm RC, xã BY, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn La (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Thuận (đã chết); có vợ là Hà Thị Mến, sinh năm 1970, có 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Hoàng Văn H bị tạm giữ từ ngày 05/8/2022 đến ngày 08/8/2022. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

(có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Hoàng Thanh Tr (tên gọi khác: Hoàng Văn Tr), sinh năm 1993.

Địa chỉ: Xóm Làng Luông, xã Bình Thành, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(vắng mặt)

* Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Xóm YT, xã BY, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(vắng mặt)

2. Anh Ma Công C, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Xóm RC, xã BY, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(vắng mặt)

* Người chứng kiến:

Ông Ma Quang Sinh, sinh năm 1964.

Địa chỉ: Xóm RC, xã BY, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ, ngày 05/8/2022, Công an huyện Định Hoá phát hiện, bắt quả tang Hoàng Văn Hoà, sinh năm 1969 đang có hành vi bán số lô, số đề cho các đối tượng Nguyễn Ngọc C và Hoàng Thanh Tr (tên gọi khác Hoàng Văn Tr) tại nhà ở của H thuộc xóm RC, xã BY, huyện Định Hoá.

Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ trên tay của Tr 01 tờ giấy được cắt từ vỏ bìa cây thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG”, kích thước 11x12 cm, có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, mặt màu trắng có ghi “Lô 00, 48, 37, 63, 72 x 30Đ” và “Lô 14, 17, 00, 95 x 20Đ”. Thu giữ của Hoàng Văn Hoà số tiền 5.350.000 đồng (Năm triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 mảnh giấy trắng có dòng kẻ, kích thước 12x17 cm, có một mặt ghi các mã bán hàng tạp hoá, một mặt ghi các con số: “00, 37, 48, 63, 7”; 01 bút bi mực màu đen, nhãn hiệu Flexoffice. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong tang vật theo quy định. (BL: 32-39).

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Hoà có cửa hàng bán hàng tạp hoá tại xóm RC, xã BY, huyện Định Hoá, từ khoảng cuối tháng 6, đầu tháng 7 năm 2022, do biết có một số người có nhu cầu mua số lô, số đề nên Hoà đã làm thêm việc bán số lô, số đề cho người chơi để kiếm lời. Hoà chỉ nhận mua số lô đề nhỏ lẻ, sau khi bán số lô, đề cho người đến mua, Hoà không chuyển cho ai khác mà tự mình trả tiền cho người mua khi có người chơi trúng thưởng, Hoà cũng chỉ nhận ghi số lô, đề bằng hình thức trực tiếp (ghi cáp) mà không nhận ghi qua các phương tiện khác do không thành thạo trong việc sử dụng điện thoại di động. Hoà dựa theo kết quả sổ xố kiến thiết miền bắc để so kết quả trúng thưởng hoặc không trúng thưởng. Hoà bán một điểm số lô với giá 23.000 đồng (Hai mươi ba nghìn đồng), nếu trúng thì người chơi sẽ nhận lại số tiền là 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng) trên một điểm lô. Còn đối với số đề tuỳ thuộc vào số tiền người chơi bỏ ra, nếu trúng thưởng, người chơi sẽ nhận được số tiền gấp 70 lần số tiền người mua bỏ ra.

Hình thức đánh bạc qua việc mua số lô, số đề được xác định như sau:

Đánh đề là ngươi chơi chọn tùy thích 02 số tự nhiên từ 00 đến 99 để chơi. Khi xổ số miền bắc ngày hôm đó có kết quả thì lấy 02 số cuối của giải đặc biệt (số hàng chục và hàng đơn vị) làm kết quả cho số đề. Nếu 02 số khách chơi trùng với kết quả đó thì khách trúng đề và được trả thưởng với tỉ lệ gấp 70 lần số tiền khách đã chơi, nếu không trùng thì bị mất số tiền đã chơi cho người ghi đề.

Đánh lô là hình thức người chơi chọn tùy thích 02 số tự nhiên từ 00 đến 99 để chơi nhưng khác với đề là người đánh lô phải mua theo điểm. Số lô trúng thưởng được tính khi trùng với 02 số cuối cùng của bất kỳ giải nào trong 27 giải của kết quả xổ số miền bắc ngày hôm đó. Nếu trúng thưởng thì tỉ lệ 1 điểm được 80.000 đồng. Nếu trong kết quả hôm đó có nhiều giải có 02 số cuối như nhau (gọi là về nhiều nháy) người chơi trúng thì được thưởng với tỉ lệ như trên và nhân theo tỉ lệ số trùng nhau nữa nhưng không được quá ba lần.

Chiều ngày 05/8/2022, Hoà đang ở nhà thì có C và Tr đến và hỏi mua số lô thì được Hoà đồng ý, Hoà lấy giấy bút ra thì C đọc cho Hoà ghi các số lô “00, 48, 37, 63, 72” mỗi số 30 điểm, tổng là 150 điểm với tổng số tiền 3.450.000 đồng (Ba triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng), Hoà ghi các số lô trên vào 01 tờ giấy được cắt từ vỏ hộp cây thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG”, sau khi ghi xong, C đưa cho Hoà số tiền 3.450.000 đồng. Sau đó Tr đọc cho Hoà ghi các số lô “14, 17, 00, 95” mỗi số 20 điểm, tổng là 80 điểm với tổng số tiền 1.840.000 đồng (Một triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng). Khi Tr đọc xong, Hoà ghi cùng các số trên vào tờ cáp đã ghi cho C, Tr đưa cho Hoà số tiền 1.900.000 đồng, Hoà cầm tiền ở tay và ghi các số lô đã bán C và Tr ra một mảnh giấy khác để lưu lại, H chưa kịp trả lại Tr số tiền thừa là 60.000 đồng thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.

Vật chứng vụ án gồm: 01 tờ giấy được cắt từ vỏ bìa cây thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG”, kích thước 11x12 cm, có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, mặt màu trắng có ghi “Lô 00, 48, 37, 63, 72 x 30Đ” và “Lô 14, 17, 00, 95 x 20Đ”; 01 mảnh giấy trắng có dòng kẻ, kích thước 12x17 cm, có một mặt ghi các mã bán hàng tạp hoá, một mặt ghi các con số: “00, 37, 48, 63, 7”; 01 bút bi mực màu đen, nhãn hiệu Flexoffice và số tiền 5.350.000 đồng (Năm triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Bản cáo trạng số: 71/CT- VKSĐH ngày 23/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Hoàng Văn H về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích tính chất, nội dung, hành vi phạm tội, hậu quả và tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội "Đánh bạc".

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo H từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi tư) tháng. Giao bị cáo cho địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự. Phạt bổ sung bị cáo Hoàng Văn H từ 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) đến 15 (mười năm triệu đồng) sung công quỹ nhà nước.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 tờ giấy được cắt từ vỏ bìa cây thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG”, kích thước 11x12 cm, có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, mặt màu trắng có ghi “Lô 00, 48, 37, 63, 72 x 30Đ” và “Lô 14, 17, 00, 95 x 20Đ”; 01 mảnh giấy trắng có dòng kẻ, kích thước 12x17 cm, có một mặt ghi các mã bán hàng tạp hoá, một mặt ghi các con số: “00, 37, 48, 63, 7”; 01 bút bi mực màu đen, nhãn hiệu Flexoffice.

- Tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 5.350.000 đồng bị cáo dùng bán số lô. Trong đó có 60.000 đồng (sáu mươi nghìn đồng) là số tiền Tr mua lô của bị cáo H còn thừa, trong quá trình giải quyết vụ án Tr đã có đơn không yêu cầu trả lại.

Trong vụ án này còn có các đối tượng C và Tr tham gia đánh bạc bằng hình thức mua các số lô với Hoàng Văn Hoà. Do không đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự nên Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt hành chính.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo đối với bản án.

Phần tranh luận, đối đáp: Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì.

Lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất, xin được hưởng án treo và C tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và đều hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Tr, những người làm chứng và người chứng kiến. Đây đã là phiên tòa lần thứ hai, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia tố tụng nhưng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và người chứng kiến vẫn vắng mặt. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về sự vắng mặt của họ, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đề nghị xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và người chứng kiến. Quá trình điều tra, những người vắng mặt không có khiếu nại gì đối với quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia nên việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử, không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Tr, những người làm chứng và người chứng kiến theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về tội danh và điều luật áp dụng:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và người chứng kiến về thời gian, địa điểm, về số tiền bị cáo dùng để bán lô bị thu giữ. Phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét và các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được khách quan có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ kết luận:

Lo hám lời, chiều ngày 05/8/2022, bị cáo đang ở nhà thì có C và Tr đến hỏi mua số lô bị cáo đồng ý và lấy giấy bút ra, C đọc cho bị cáo ghi các số lô “00, 48, 37, 63, 72” mỗi số 30 điểm, tổng là 150 điểm với tổng số tiền 3.450.000 đồng (Ba triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng), Bị cáo ghi các số lô trên vào 01 tờ giấy được cắt từ vỏ hộp cây thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG”, sau khi ghi xong, C đưa cho bị cáo số tiền 3.450.000 đồng. Sau đó Tr đọc cho bị cáo ghi các số lô “14, 17, 00, 95” mỗi số 20 điểm, tổng là 80 điểm với tổng số tiền 1.840.000 đồng (Một triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng). Khi Tr đọc xong, bị cáo ghi cùng các số trên vào tờ cáp đã ghi cho C, Tr đưa cho bị cáo số tiền 1.900.000 đồng, bị cáo cầm tiền ở tay và ghi các số lô đã bán C và Tr ra một mảnh giấy khác để lưu lại thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 tờ giấy được cắt từ vỏ bìa cây thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG”, kích thước 11x12 cm, có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, mặt màu trắng có ghi “Lô 00, 48, 37, 63, 72 x 30Đ” và “Lô 14, 17, 00, 95 x 20Đ”; 01 mảnh giấy trắng có dòng kẻ, kích thước 12x17 cm, có một mặt ghi các mã bán hàng tạp hoá, một mặt ghi các con số: “00, 37, 48, 63, 7”; 01 bút bi mực màu đen, nhãn hiệu Flexoffice và số tiền 5.350.000 đồng (Năm triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Hành vi của bị cáo Hoàng Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định.

Điều 321: Tội đánh bạc:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng… thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, phạt C tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

…

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng triệu đồng”.

Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn ở trên và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

. Xét tính chất, hậu quả hành vi của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc đánh bạc là vi phạm pháp luật, nhưng thực hiện với lỗi cố ý. Do đó, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến các quy định của Nhà nước về quản lý trật tự xã hội, đi ngược lại công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm của toàn xã hội, xâm phạm đến các điều cấm được Bộ luật hình sự bảo vệ. Hành vi đó phải được xử lý bằng pháp luật hình sự.

. Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

Bị cáo “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo “ thành khẩn khai báo và ăn năn, hối C” do đó bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách triệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ vào nhân thân, tính chất của vụ án và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy rằng: Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng. Nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Mục đích của bị cáo ghi số lô nhằm mục đích kiếm lời nên cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự là cần thiết và phù hợp, đúng pháp luật.

Về vật chứng của vụ án:

01 tờ giấy được cắt từ vỏ bìa cây thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG”, kích thước 11x12 cm, có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, mặt màu trắng có ghi “Lô 00, 48, 37, 63, 72 x 30Đ” và “Lô 14, 17, 00, 95 x 20Đ”; 01 mảnh giấy trắng có dòng kẻ, kích thước 12x17 cm, có một mặt ghi các mã bán hàng tạp hoá, một mặt ghi các con số: “00, 37, 48, 63, 7”; 01 bút bi mực màu đen, nhãn hiệu Flexoffice là công cụ, phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng. Do đó, cần tịch thu tiêu hủy.

- Số tiền 5.350.000 đồng (Năm triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) thu của bị cáo dùng để mua bán số lô, trong đó có 60.000 đồng là tiền mua lô thừa của Tr. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án Tr có đơn không yêu cầu lại số tiền 60.000 đồng, vì vậy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối bị cáo, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo là phù hợp, đúng pháp luật và cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn H phạm tội: "Đánh bạc”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã BY, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự: Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 tờ giấy được cắt từ vỏ bìa cây thuốc lá nhãn hiệu “THĂNG LONG”, kích thước 11x12 cm, có một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, mặt màu trắng có ghi “Lô 00, 48, 37, 63, 72/x 30Đ” và “Lô 14, 17, 00, 95/x 20Đ”; 01 mảnh giấy trắng có dòng kẻ, kích thước 12x17 cm, có một mặt ghi các mã bán hàng tạp hoá, một mặt ghi các con số: “00, 37, 48, 63, 7”; 01 bút bi mực màu đen, nhãn hiệu Flexoffice là công cụ, phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng

- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 5.350.000 đồng (Năm triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) là số tiền bị cáo dùng để mua bán số lô.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận lập ngày 09/12/2022 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ; Ủy nhiệm chi số 49 ngày 09/12/2022 giữa Công an huyện Đ và kho bạc nhà nước huyện Đ).

4. Về án phí và quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, báo cho biết có quyền kháng cáo theo phần liên quan kể từ khi nhận được bản án hoặc bán án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ