vanban.org

Bản án 04/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 06/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn V phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Điểm c khoản1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015của Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt:Bị cáo Lý Văn V 20 (ha mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ bị cáo đi thi hành án (Được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/9/2022 đến ngày18/11/2023)… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn V phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TAND HUYỆN ĐẠI TỪ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HS-ST
Ngày: 06/01/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Mỳ

2. Ông Phạm Việt Dũng

Thư ký phiên tòa: Bà Đào Hồng Thanh, Thư ký TAND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Vũ, Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 01 năm 2023, tại TAND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 147/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Văn V; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Sinh ngày 02 tháng 10 năm 1996;

NĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không;Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 8/12; Con ông: Lý Văn T, sinh năm 1956; Con bà: Hoàng Thị C, sinh năm 1958;Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 05 anh, chị em, bị cáo là con thứ 05 trong gia đình;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/9/2022 đến ngày 18/11/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khởi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương - Có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1964 (vắng mặt)

Trú tại: Xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi13 giờ 00 phút ngày 02/9/2022, Tổ công tác Công an xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên tuyến đường giao thông thuộc xóm Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Thìnhận được tin báo của quần chúng nhân dân cung cấp, tại khu vực đường dân sinh của xóm Đ có một số đối tượng đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, sau khi nhận được tin báo Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra, thì phát hiện một nam thanh niên đang đứng ở lề đường có biểu hiện nghi vấn, nên đã giữ người này lại và yêu cầu kiểm tra, người này chấp hành và khai tên là Lý Văn V. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra đã phát hiện thu giữ tại túi quần bên phải. V khai đang cất giữa chất ma túy trên người đang mặc trên người có 01gói giấy màu vàng, bên trong đựng các cục chất bột màu trắng (V khai là ma túy loại, Heroine mua về để sử dụng cho bản thân). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng, niêm phong vào phong bì ký hiệu V và chuyển toàn bộ hồ sơ, đối tượng cùng vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.

Hồi 20 giờ 00 phút ngày 02/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Lý Văn V. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Hồi 19 giờ 00 phút ngày 02/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên đã tiến hành mở niêm phong và cân toàn bộ số chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu V, có khối lượng là: 0,166 gam; (đã niêm phong vào phong bì ký hiệu V1 gửi giám định).

Tại kết luận giám định số 1373/KL-KTHS ngày 10/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu V1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,166 gam.

Tại bản cáo trạng số152/CT-VKSĐT ngày16/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lý Văn V về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lý Văn Vphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Lý Văn V từ 18 đến 24 tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo; xử lý vật chứng theo quy định; miễn án phí hình sự cho bị cáo vì bị cáo là hộ nghèo.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan, bị cáo ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình T, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà ngày hôm nay, bị cáo đã khai nhận: Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, khoảng 12 giờ 30 phút ngày 02/9/2022 bị cáo đi một mình từ nhà xuống khu vực thị trấn Hùng Sơn, huyện Đđể tìm mua chất ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, bị cáo đã mua của một ngườiđàn ông(bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ khoảng 40 tuổi), được 01 gói ma túy loại Heroine được gói bằng giấy màu vàng với giá 200.000đồng. Bị cáo cất vào túi quần bên phải và đi về nhà, khi đi đến khu vực đoạn đường thuộc xóm Đ, xã P, huyện Đ,thì bị Tổ công tác Công an xã P phát hiện và thu số ma túy bị cáo vừa mua được.

Lời khai nhận của Lý Văn V phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định (BL33 – 50, 51 - 63). Như vậy hành vi của bị cáo Lý Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Nội dung điều luật quy định như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

...

c, Heroine… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”

. Xét tính chất vụ án: Tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật T an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy cần xử lý bị cáo thật nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm về ma túy.

. Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, nhưng bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên bị cáo đã lao vào con đường phạm tội. Vì vậy cần, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, xử phạt bị cáo mức phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội để bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

. Về vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong ký hiệu V1; 01 phong bì niêm phong ký hiệu V2. Xét thấy đây là vật chứng liên quan đến vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

. Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc để có mức hình phạt cho phù hợp, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có công ăn việc làm ổn định, không có tài sản cá nhân gì, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo của xã P nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước tuy nhiên bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo là phù hợp.

Về nguồn gốc Heroine, bị cáo V khai mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực thị trấn Hùng Sơn, huyện Đ, do không xác định được lai lịch của người đàn ông này, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn V phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Điểm c khoản1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt:Bị cáo Lý Văn V 20 (ha mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ bị cáo đi thi hành án (Được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/9/2022 đến ngày18/11/2023).

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu V1; 01 phong bì niêm phong ký hiệu V2.

(Tình trạng đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại Quyết định chuyển vật chứng số 131/QĐ – VKSĐT ngày 16/11/2022của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên).

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo V (hộ nghèo).

Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ