- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HS-ST Ngày 10-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Khi
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Văn Đoàn
Bà Dương Thị Cúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hà Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lâm Văn Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị H; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 20 tháng 10 năm 1976 tại: huyện B, tỉnh L. Nơi đăng ký HKTT: Khu phố H, phường Đ, thành phố T, tỉnh B. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 06/12. Con ông: Nguyễn Thạc K, sinh năm 1939, con bà: Phan Thị H, sinh năm 1943 (đã chết). Chồng: Nguyễn Thạc H1, sinh năm 1972 (đã ly hôn, đã chết). Con: có 02 người, con thứ nhất sinh năm 1993, con thứ hai sinh năm 1998. Anh, chị, em ruột: Có 04 người, bị cáo là thứ 04. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Gia từ ngày 23/8/2022 đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1966. Địa chỉ: Khối phố 2, thị trấn B, huyện B, tỉnh L. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Hoàng Đình B, sinh năm 1987. Địa chỉ: Khối phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh L. Vắng mặt.
2. Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1998. Địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện B, tỉnh L. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 50 phút ngày 23/8/2022, tại địa phận khối phố T, thị trấn B, huyện B, tổ công tác Công an huyện B tiến hành kiểm tra đối với Nguyễn Thị H, đang điều khiển 01 (một) xe máy điện, phát hiện và thu giữ trên tay trái của H 01 (một) gói băng dính màu đen, bên trong có một lớp giấy bạc bọc một túi nilon trong suốt, kích thước 01x01 cm, chứa hạt tinh thể màu trắng và chất dạng cục màu hồng nghi là ma túy, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị H tại khối phố N, thị trấn B, huyện B. Quá trình khám xét thu giữ 02 (hai) gói nilon nhỏ bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, được bọc bằng giấy bạc màu trắng, bên ngoài được quấn bằng băng dính màu đen dán trong 01 (một) nắp hộp nhựa đựng hoa quả màu xanh tại cửa sổ phòng ngủ của Nguyễn Thị H; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xanh, nhãn hiệu Samsung Galaxy M12.
Ngày 24/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B quyết định trưng cầu giám định số tang vật nghi là ma túy. Tại Kết luận giám định số 306/KL-KTHS ngày 25/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L kết luận: Chất tinh thể màu trắng và chất bột màu hồng dạng cục thu trên người Nguyễn Thị H đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,150 gam (đã trừ bì). Chất tinh thể màu trắng và màu hồng thu giữ tại nơi ở của Nguyễn Thị H đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,266 gam (đã trừ bì).
Căn cứ lời khai của bị cáo và quá trình điều tra xác định: Do có nhu cầu sử dụng ma túy và bán kiếm lời nên khoảng đầu tháng 8 năm 2022, Nguyễn Thị H đến khu vực chợ Đ, thành phố L, tỉnh L mua ma túy Methamphetamine (ma túy tổng hợp dạng đá) với một người phụ nữ không rõ tên tuổi, địa chỉ, dáng người cao khoảng 1m70, do khi giao ma túy cho H người phụ nữ đó đeo khẩu trang nên H không nhìn rõ mặt. H đưa cho người phụ nữ số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) để mua 01 (một) gói chất ma túy tổng hợp, sau khi mua được ma túy, H mang về phòng trọ và chia thành 07 (bảy) tép ma túy nhỏ, mục đích để sử dụng và bán. H đã bán được 02 (hai) tép, sử dụng hết 02 (hai) tép, 03 (ba) tép bị cơ quan Công an thu giữ. Các lần bán ma túy cụ thể như sau:
- Khoảng 22 giờ ngày 20/8/2022, Hoàng Đình B, sinh năm 1987, trú tại khối phố T, thị trấn B, huyện B gọi điện thoại cho Nguyễn Thị H hỏi mua ma túy, H đồng ý và hẹn giao ma túy tại nhà của B. Do không có xe để đi lại nên trước đó H đã mượn chiếc xe máy điện của chị gái ruột là Nguyễn Thị D, sinh năm 1966, trú tại khối phố 2, thị trấn B, huyện B. H điều khiển xe máy điện đến nhà B đưa cho B 01 (một) tép ma túy, B đưa cho H số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
- Khoảng 22 giờ ngày 22/8/2022, Hoàng Văn H sinh năm 1998, trú tại thôn N, xã H, huyện B, gọi điện thoại cho Nguyễn Thị H hỏi mua ma túy, H đồng ý và hẹn giao ma túy cho H tại khu vực gần cổng Trường Trung học phổ thông B, địa chỉ: khối phố P, thị trấn B, huyện B. Tại đây, H đưa cho H 01 (một) tép ma túy, H cầm lấy gói ma túy và đưa cho H số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
- Khoảng 13 giờ ngày 23/8/2022, Hoàng Văn H tiếp tục gọi điện cho Nguyễn Thị H hỏi mua ma túy. H nói còn có ma túy nên H nói bán cho 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Do trời đang mưa nên H chưa đi giao ma túy cho H. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, H tiếp tục gọi điện thoại cho H nói lấy ma túy đến gần quán Karaoke Cafe P, địa chỉ: khối phố T, thị trấn B, huyện B để giao ma túy cho H. H lấy 01 (một) gói ma túy dán ở nắp khay nhựa hộp đựng hoa quả màu xanh cạnh cửa sổ phòng ngủ rồi điều khiển xe máy điện đi bán ma túy cho H. Khi đến khu vực khối phố T, thị trấn B, huyện B thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Đình B và Hoàng Văn H khai nhận được mua ma túy với Nguyễn Thị H về sử dụng cho bản thân. Số tiền có được từ việc bán ma túy Nguyễn Thị H đã tiêu xài cá nhân hết, không nhớ cụ thể.
Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Nguyễn Thị H theo lời khai của bị cáo, Cơ quan điều tra đã phối hợp xác minh tại khu vực chợ Đ, thành phố L, tỉnh L. Kết quả không xác định được nhân thân, lai lịch người phụ nữ có đặc điểm như H khai nên không đủ căn cứ xử lý trong vụ án này.
Đối với Hoàng Văn H và Hoàng Đình B đã mua ma túy với Nguyễn Thị H về sử dụng cho bản thân. Ngày 06/10/2022, Công an huyện B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo.
Đối với 01 (một) chiếc xe máy điện màu cam, có logo NIJIA, số khung: RPLYGEJGNMHG00421, số máy: CZSVEK00791, Nguyễn Thị H sử dụng để đi bán ma túy. Kết quả xác minh xác định thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị D. Bà Nguyễn Thị D cho Nguyễn Thị H mượn để đi lại và phụ giúp bà D bán hàng. Việc Nguyễn Thị H sử dụng chiếc xe trên vào việc phạm tội bà Nguyễn Thị D không biết. Ngày 09/10/2022, bà D có đơn đề nghị trả lại chiếc xe máy điện. Xét thấy việc xử lý vật chứng không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, ngày 14/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe máy điện trên cho bà Nguyễn Thị D.
Tại cáo trạng số:25/CT-VKS-BG ngày 28/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia truy tố Nguyễn Thị H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 23/8/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư chứa 01 gói giấy đựng 0,123 gam Methamphetamine và các vỏ bao cũ; 01 phong bì thư chứa 01 gói giấy đựng 0,237 gam Methamphetamine và các vỏ bao cũ; 01 (một) nắp hộp nhựa đựng hoa quả màu xanh, kích thước 50cm x 40cm, bên trong có nhiều ô hình vuông bị cáo dùng để cất giấu ma túy. Tịch thu sung ngân sách 01 (một) điện thoại bàn phím nhãn hiệu NOKIA 1280 màu xanh bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy. Trả lại 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng Sam Sung Galaxy M12, màu xanh không sử dụng vào mục đích mua bán ma túy. Truy thu số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) bị cáo Nguyễn Thị H thu lợi bất chính để nộp ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của pháp luật Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện có trong hồ sơ là hợp pháp.
Về sự vắng mặt của của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án vì trong hồ sơ vụ án đã có đủ lời khai nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án.
Về hành vi phạm tội, chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa, căn cứ vào biên bản phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, bản kết luận giám định, vật chứng thu được và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ. Các tài liệu, chứng cứ hoàn toàn phù hợp và đủ cở sở kết luận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy và bán kiếm lời nên khoảng đầu tháng 8 năm 2022, Nguyễn Thị H đến khu vực chợ Đ, thành phố L, tỉnh L mua ma túy Methamphetamine (ma túy tổng hợp dạng đá) với một người phụ nữ không rõ tên tuổi, địa chỉ, dáng người cao khoảng 1m70, do khi giao ma túy cho H người phụ nữ đó đeo khẩu trang nên H không nhìn rõ mặt. H đưa cho người phụ nữ số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) để mua 01 (một) gói chất ma túy tổng hợp, sau khi mua được ma túy, H mang về phòng trọ và chia thành 07 (bảy) tép ma túy nhỏ, mục đích để sử dụng và bán. H đã bán 02 lần được 02 (hai) tép cho Hoàng Đình B và Hoàng Văn H, sử dụng hết 02 (hai) tép, 03 (ba) tép bị cơ quan Công an thu giữ. Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, làm ảnh hưởng đến chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước và làm phát sinh các loại tội phạm khác. Do vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy nên được coi là không có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Xét quá trình điều tra, truy tố và xét xử thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến Hạng nhì và Huy chương chiến sĩ vẻ vang. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ những nhận định, đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, đủ để bị cáo cải tạo sau này trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, là lao động tự do, không có công ăn việc làm ổn định và cũng không đảm nhiệm chức vụ gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư chứa 01 gói giấy đựng 0,123 gam Methamphetamine và các vỏ bao cũ; 01 phong bì thư chứa 01 gói giấy đựng 0,237 gam Methamphetamine và các vỏ bao cũ; 01 (một) nắp hộp nhựa đựng hoa quả màu xanh, kích thước 50cm x 40cm, bên trong có nhiều ô hình vuông bị cáo dùng để cất giấu ma túy. Tịch thu sung ngân sách 01 (một) điện thoại bàn phím nhãn hiệu NOKIA 1280 màu xanh bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy. Trả lại 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng Sam Sung Galaxy M12, màu xanh không sử dụng vào mục đích mua bán ma túy. Truy thu số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) bị cáo Nguyễn Thị H thu lợi bất chính để nộp ngân sách Nhà nước. Xác nhận Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy cho bà Nguyễn Thị D.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát: Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án nhẹ nhất.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 23/8/2022.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư có chữ “Tang vật thu giữ trên người Nguyễn Thị H” (cũ), được niêm phong bằng: chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) túi ni-lông (cũ) đựng 0,123 gam Methamphetamine và các vỏ bao gói (cũ); 01 (một) phong bì thư có chữ “Tang vật khám xét” (cũ), được niêm phong bằng: chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định và các hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 0,237 gam Methamphetamine và các vỏ bao gói (cũ); 01 (một) nắp hộp nhựa đựng hoa quả màu xanh, kích thước 50cm x 40cm, bên trong có nhiều ô hình vuông.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại bàn phím nhãn hiệu NOKIA 1280 màu xanh, (tình trạng cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong).
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị H 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng Sam Sung Galaxy M12, màu xanh (tình trạng cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong).
(Các vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/11/2022).
- Truy thu số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) bị cáo Nguyễn Thị H thu lợi bất chính để nộp ngân sách Nhà nước.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Bình Gia, T. Lạng Sơn; - CA huyện Bình Gia, T. Lạng Sơn; - CCTHADS huyện Bình Gia, T. Lạng Sơn; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đ ký Hoàng Văn Khi |