- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Văn T Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Văn T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/ HS - ST Ngày 27 - 02 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Như Long
Các hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Bích Phượng
Ông Cư A Cớ
Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Tươi - Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Lương – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2023/TLST - HS ngày 13/01/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-HS ngày 16/02/2023 đối với bị cáo:
Cao Văn T ( Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày: 23/10/1992 tại huyện B, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Thôn T, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Cao Văn L - Sinh năm: 1962 (Đã chết năm 2006) và bà Phạm Thị L - Sinh năm: 1973 (Đã chết năm 2015).
Vợ: Hoàng Kim Ng - Sinh năm: 1998; Trú tại: Thôn T, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Bị cáo có 03 con Con lớn nhất sinh năm 2016 (Đã chết năm 1018), con nhỏ nhất sinh năm 2022;
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/11/2022, tạm giam từ ngày 03/12/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo Cao Văn T: Bà Phạm Thị Hoa Huỳnh - Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai - Có mặt.
Người chứng kiến: Anh Vũ Văn D; Nơi cư trú: Thôn L, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 10 phút ngày 24/11/2022, tại Thôn L, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai, tổ công tác Công an xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai làm nhiệm vụ tại khu vực Thôn L, xã S, huyện B phát hiện và bắt quả tang Cao Văn T - Sinh ngày 23/10/1992 là người trú tại Thôn T, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Tại đây Cao Văn T tự giác lấy từ trong túi áo bên phải đang mặc trên người ra 02 gói nhỏ được bọc bằng giấy bạc mầu trắng giao nộp cho tổ công tác. Tiến hành mở kiểm tra 02 gói giấy bạc màu trắng mà Cao Văn T giao nộp bên trong có chứa chất bột khô, vón cục, màu trắng Cao Văn T khai là ma túy Heroine do Cao Văn T mua được của một người đàn ông không quen biết tại Thôn L, xã S, huyện B với giá là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) với mục đích đem về sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong và thu giữ vật chứng có liên quan theo quy định và bàn giao người và vật chứng cho cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện B giải quyết theo thẩm quyền.
Tại kết luận giám định số 323/KL - GĐMT ngày 26/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: Mẫu M1: 0,12 gam và mẫu M2 0,16 gam chất bột khô vón cục mầu trắng thu giữ của Cao Văn T ngày 24/12/2022 tại Thôn L, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.Cơ quan giám định đã trích 0,06 gam từ mẫu M1 và 0,08 gam từ mẫu M2 để giám định, vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định của mẫu M1 là 0,06 gam và mẫu M2 là 0,08 gam Heroine được cho riêng vào từng túi ni lon đựng mẫu ký hiệu bên ngoài tương ứng M1, M2 cùng 02 mảnh giấy bạc màu trắng và bì thư niêm phong ban đầu được tái niêm phong trong một bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Hiện cơ quan điều tra đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai để phục vụ công tác xét xử và thi hành án.
Cáo trạng số 02/CT - VKS ngày 12/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Cao Văn T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Cao Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cao Văn T phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Cao Văn T từ 01 (Một) năm đến 01 ( Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 0,14 gam Hroine còn lại sau trích mẫu giám định được cho riêng vào từng túi ni lon đựng mẫu ký hiệu bên ngoài tương ứng M1, M2 cùng 02 mảnh giấy bạc màu trắng và bì thư niêm phong ban đầu được tái niêm phong trong một bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Cao Văn T có ý kiến nhất trí với điều luật và tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Sau khi trình bầy, phân tích đánh giá mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, điều kiện phạm tội đối với bị cáo, người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình đề nghị xử phạt bị cáo Cao Văn T với mức hình phạt là 01 (Một) năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Lào Cai, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng với trình tự thủ tục tố tụng quy định của pháp luật. Vụ án không thuộc trường hợp phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp khách quan với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Do bản thân là người nghiện chất ma túy nên khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/11/2022, Cao Văn T là người có hộ khẩu thường trú tại Thôn T, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai từ thôn Mỏ, xã Xuân Giao đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết đến khu vực Thôn L, xã S, huyện B thì xuống xe với mục đích đi tìm mua ma túy về sử dụng. Khi xuống xe một mình đi bộ vào đường liên thôn thuộc Thôn L, xã S khoảng 100m Cao Văn T gặp một người đàn ông không quen biết ngồi trên xe máy đỗ ở ven đường, Cao Văn T đi lại gần người này và hỏi "Anh có hàng không để cho em hai trăm" người đàn ông trả lời " Có" sau đó Cao Văn T đưa cho người đàn ông này 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và được người đàn ông này đưa lại cho Cao Văn T 02 gói nhỏ bọc bằng giấy bạc màu trắng, Cao Văn T biết bên trong là ma túy không mở ra kiểm tra rồi cho vào túi áo bên phải đang mặc đi tìm chỗ để sử dụng, khi đi được khoảng 50 mét thì bị lực lượng công an xã S kiểm tra, Cao Văn T đã tự giác giao nộp toàn bộ số ma túy vừa mua được và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Tại kết luận giám định số 323/KL - GĐMT ngày 26/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: Mẫu M1: 0,12 gam và mẫu M2 0,16 gam chất bột khô vón cục mầu trắng thu giữ của Cao Văn T ngày 24/11/2022 tại Thôn L, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.
Quá trình điều tra Cao Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã tàng trữ 0,28 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy Viện Kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Cao Văn T về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như bản cáo trạng số 02/CT - VKS ngày 12/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai và ý kiến đề nghị của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương. Xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy được pháp luật bảo vệ. Mặt khác bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, đến ngày 24/11/2022 bị cáo bị công an xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai bắt và khởi tố về hành vi tàng trữ trái phép 0,28 gam Heroine. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị xử phạt bị cáo với mức hình phạt khởi điểm của khung hình phạt là 01 năm tù là chưa phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm và lên một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Cao Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Cao Văn T có 01 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đó là " Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải". Do vậy khi lượng hình Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thể hiện tính khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, bản thân không có tài sản riêng, gia đình thuộc diện hộ nghèo của xã. Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện B, người bào chữa cho bị cáo đều không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp đúng quy định của pháp luật.
Về vật chứng: Đối với 0,14 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định mẫu M1 là 0,06 gam và mẫu M2 là 0,08 gam Hroine được cho riêng vào từng túi ni lon đựng mẫu ký hiệu bên ngoài tương ứng M1, M2 cùng 02 mảnh giấy bạc màu trắng và bì thư niêm phong ban đầu được tái niêm phong trong một bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai có ghi " Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang Cao Văn T ngày 24/11/2022 tại Thôn L, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai". Hiện đang lưu giữ tại chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai. Xét thấy đây là vật chứng Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành. Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu để tiêu hủy là có căn cứ phù hợp với các quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Cao Văn T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Cao Văn T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt: Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Cao Văn T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 24/11/2022.
2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu: 0,14 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định mẫu M1 là 0,06 gam và mẫu M2 là 0,08 gam Hroine được cho riêng vào từng túi ni lon đựng mẫu ký hiệu bên ngoài tương ứng M1, M2 cùng 02 mảnh giấy bạc màu trắng và bì thư niêm phong ban đầu được tái niêm phong trong một bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai có ghi " Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang Cao Văn T ngày 24/11/2022 tại Thôn L, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai". Hiện đang lưu giữ tại chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai để tiêu hủy.
3. Về án phí: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu phí, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Cao Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Khoản 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - Sở tư pháp tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện B; - Công an huyện B; - Cơ quan THA HS công an tỉnh Lào Cai; - THA HS - DS (03); - Bị cáo; - Người bào chữa cho bị cáo; - Lưu HS – TA- VP(03). | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Phạm Như Long |