- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Thị Bích P và bị cáo Lê Nguyễn Nhất L phạm tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 321 Lu…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Bích P. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 148/2022/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HS-PT Ngày 06-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Thế Phương
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Văn Út
Ông Trịnh Xuân Miễn
- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Trà My là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lê Kiều Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 149/2022/TLPT-HS ngày 08 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Thị Bích P do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 148/2022/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Bị cáo có kháng cáo:
Ho và tên: Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1978, nơi cư trú: Ấp B, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ hoc vấn: 5/12; Nghề nghiệp: mua bán. Con ông: Nguyễn Văn Th (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị L (đã chết); Anh, chị, em ruột: 07 người; Chồng: Tăng Điền L; Con: 03 người (lớn nhất sinh năm 1998 và nhỏ nhất sinh năm 2019); chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/6/2020. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị cáo không có kháng cáo:
Ho và tên: Lê Nguyễn Nhất L, sinh năm: 1976; nơi cư trú: khóm 2, phường 8, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ hoc vấn: 8/12; Nghề nghiệp: nội trợ; Con ông: Lê Hữu Th (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Hồng Th; Anh, chị, em ruột: 04 người; Chồng: Trần Thanh N; Con: 01 người (sinh năm 2012); chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/4/2021. Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1963; Địa chỉ: Ấp T, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
2. Bà Lê Thị P, sinh năm 1968; Địa chỉ: Ấp B, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
3. Bà Nguyễn Kiều N, sinh năm 1965; Địa chỉ: Ấp T, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ ngày 07 tháng 02 năm 2020, lực lượng Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh C phối hợp với Công an xã L thành phố C tiến hành bắt quả tang Nguyễn Thị Bích P đang thực hiện hành vi mua bán số đề tại nhà thuộc ấp B, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Tang vật thu giữ gồm: 01 điện thoại di động hiệu Mobell sim số 0945848117 và số 0948578151; 01 điện thoại di động hiệu Mobell màu hồng không có sim; 03 quyển tập có ghi các con số lô, số đề; 07 tờ giấy (phơi số) có ghi các con số lô, số đề; 01 cây bút bi; 01 máy tính casio; Tiền Việt Nam thu giữ trên người của Nguyễn Thị Bích P 6.470.000 đồng; Tiền Việt Nam thu giữ trong tủ nơi để các giấy phơi số lô, số đề là 5.000.000 đồng.
Qua kết quả điều tra, bị cáo Nguyễn Thị Bích P khai nhận là bị cáo bán số đề nhiều ngày (hơn 15 ngày), tự ôm phơi làm chủ, ăn thua trực tiếp với người mua. Hình thức bán số đề là bán trực tiếp cho người đến mua số tại nhà, bị cáo ghi lại phơi số cụ thể về đài xổ số; số cần mua, số tiền mua; bán số qua điện thoại trực tiếp và nhắn tin qua điện thoại cho bị cáo thì bị cáo soạn tin nhắn về đài xổ số; số cần mua, số tiền mua để xác nhận với người mua số. Sau khi có kết quả xổ số thì tính ăn thua, người mua trúng số thì đến nhà bị cáo lấy tiền, còn người mua không trúng thì hẹn gặp hoặc đến nhà bị cáo để thanh toán.
Hình thức ăn thua ở các đài xổ số Miền Nam: Đối với số đầu, số đuôi thì người mua số trên 50.000 đồng được trừ 20% tiền huê hồng và nếu trúng số thì được hưởng 70 lần tiền mua số. Đối với số lô 02 chữ số: Mua 1.000 đồng, ăn thua tính trên 18 lô xổ số kiến thiết, được trừ huê hồng 3.000 đồng, số tiền người mua phải trả 15.000 đồng, nếu trúng số được hưởng 80 lần tiền mua số. Số đá 02 cập số: Mua 1.000 đồng, ăn thua tính trên 18 lô xổ số kiến thiết, được trừ huê hồng 6.000 đồng, số tiền người mua phải trả 30.000 đồng, nếu trúng số được hưởng 300 lần tiền mua số. Số đá 03 cập: Mua 1.000 đồng, ăn thua tính trên 18 lô xổ số kiến thiết, được trừ huê hồng 9.000 đồng, số tiền người mua phải trả 45.000 đồng, nếu trúng 02 cập số được hưởng 300 lần tiền mua số, nếu trúng 03 cập số được hưởng 600 lần tiền mua số.
Hình thức ăn thua ở đài xổ số Miền Bắc thì bị cáo chỉ bán số lô và số đá. Đối với số lô 02 chữ số: Mua 1.000 đồng, ăn thua tính trên 27 lô xổ số kiến thiết, được trừ huê hồng 4.500 đồng, số tiền người mua phải trả 22.500 đồng, nếu trúng số được hưởng 80 lần tiền mua số. Số đá 02 cập số: Mua 1.000 đồng, ăn thua tính trên 27 lô xổ số kiến thiết, được trừ huê hồng 8.000 đồng, số tiền người mua phải trả 46.000 đồng, nếu trúng số được hưởng 300 lần tiền mua số.
Kết quả điều tra đã chứng minh việc Nguyễn Thị Bích P bán số đề cụ thể như sau:
Ngày 07/02/2020: Kiểm tra phơi số đề (thứ tự 1 và 2) và quyển tập 2, trang thứ tự 6 và 7 đã thể hiện bị cáo bán số đầu, số đuôi, số lô 02 con ở đài Trà Vinh cho ông M (ấp B, xã L) với số tiền là 2.160.000 đồng. Bán cho Nguyễn Kiều N (ấp T, xã L) số đầu, số đuôi, số lô 02 con ở đài Trà Vinh với số tiền 1.230.000 đồng, đài Bình Dương 260.000 đồng, đài Vĩnh Long 260.000 đồng, tổng cộng bán số cho Nguyễn Kiều N là 1.750.000 đồng. Bán cho ông Mạnh (ấp B, xã L) số lô 02 con, số đá 02 cập ở đài Trà Vinh với số tiền 360.000 đồng. Bán cho Ngây (ấp L, xã L) số lô 02 con đài Trà Vinh số tiền 630.000 đồng, đài Vĩnh Long 630.000 đồng, đài Bình Dương 630.000 đồng, tổng số tiền bán số cho Ngây là 1.890.000 đồng. Bán cho Nam số lô 02 con đài Trà Vinh số tiền 360.000 đồng.
Kiểm tra hợp thư đến, hợp thư gửi trên điện thoại Mobell sim số 0945.848.117 của Nguyễn Thị Bích P đã chứng minh Nguyễn Thị Bích P bán số cho Võ Xuân Đ (gần cống B) số lô 02 con đài Trà Vinh với số tiền 540.000 đồng. Bán cho Lê Thị P (Út R) số lô 02 con đài Trà Vinh với số tiền 900.000 đồng, đài Bình Dương với số tiền 900.000 đồng, đài Vĩnh Long với số tiền 900.000 đồng, tổng cộng bán cho Lê Thị P với số tiền 2.700.000 đồng. Bán cho Nguyễn Thị S số lô 02 con đài Trà Vinh với số tiền 1.620.000 đồng; đài Bình Dương với số tiền 1.620.000 đồng; đài Vĩnh Long với số tiền 1.620.000 đồng, tổng cộng bán cho Nguyễn Thị S với số tiền 4.860.000 đồng. Bán cho bị cáo Lê Nguyễn Nhất L số lô 02 con đài Trà Vinh với số tiền 1.800.000 đồng, số lô 02 con đài Bình Dương với số tiền 1.800.000 đồng, số lô 02 con đài Vĩnh Long với số tiền 1.800.000 đồng, tổng cộng bán cho Lê Nguyễn Nhất L với số tiền 5.400.000 đồng.
Tổng số tiền Nguyễn Thị Bích P dùng đánh bạc trong ngày 07/02/2020 là 20.020.000 đồng.
Bị cáo Lê Nguyễn Nhất L khai nhận là ngày 07/02/2020 đã mua số do Nguyễn Thị Bích P bán, mua số lô 02 con đài Trà Vinh với số tiền 1.800.000 đồng, số lô 02 con đài Bình Dương với số tiền 1.800.000 đồng, số lô 02 con đài Vĩnh Long với số tiền 1.800.000 đồng, tổng cộng Lê Nguyễn Nhất L mua số với số tiền 5.400.000 đồng.
Nguyễn Thị Bích P còn khai nhận ngoài việc bán số đề vào ngày 07/02/2020 thì bị cáo còn bán số đề nhiều ngày trước đó. Qua kiểm tra các phơi số, quyển tập ghi chép số đề; các trang giấy ghi số đề và điện thoại thu giữ của Nguyễn Thị Bích P đã chứng minh việc bán số đề của Nguyễn Thị Bích P vào các ngày cụ thể sau:
Ngày 06/02/2020, tại phơi số đề theo số thứ tự 4 và 5 thì bị cáo bán cho ông Mười số đầu, số đuôi, số lô 02 con đài An Giang tổng số tiền 1.980.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết đài An Giang thì ông M trúng 800.000 đồng. Bán cho Nguyễn Kiều N số đầu, số đuôi, số lô 02 con đài An Giang tổng số tiền 880.000 đồng. Bán cho V, N, N, N, K, U số lô 02 con, số đầu, đuôi đài An Giang tổng cộng số tiền 2.880.000 đồng; số lô 02 con, số đầu, đuôi đài Bình Thuận tổng số tiền 2.250.000 đồng; số lô 02 con, số đầu, đuôi đài Tây Ninh tổng số tiền 2.130.000 đồng. Sau khi đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết, kết quả đài An Giang thì N trúng 800.000 đồng; N trúng 400.000 đồng, K trúng 400.000 đồng đài Bình Thuận; K trúng 1.200.000 đồng đài Tây Ninh. Ở đài xổ số Miền Bắc, bị cáo Nguyễn Thị Bích P bán số cho người mua là M, N, M, N, U, K số đá, số lô 02 con và 03 con tổng cộng số tiền 6.629.000 đồng. Sau khi đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết M trúng 400.000 đồng, N trúng 800.000 đồng, N trúng 1.200.000 đồng, K trúng 400.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Thị Bích P còn bán cho nhiều người mua không xác định ho, tên, địa chỉ số lô 02 con, số đầu, đuôi đài An Giang tổng số tiền 4.150.000 đồng; số lô 02 con đài Bình Thuận tổng số tiền 720.000 đồng; số lô 02 con đài Tây Ninh tổng số tiền 720.000 đồng. Sau khi đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết, M trúng số tiền 2.400.000 đồng đài An Giang; người mua không xác định được ho tên, địa chỉ trúng 2.400.000 đồng đài Bình Thuận, người mua không xác định được ho tên, địa chỉ cụ thể trúng 7.200.000 đồng đài Tây Ninh.
Tổng số tiền bị cáo Nguyễn Thị Bích P dùng đánh bạc trong ngày 06/02/2020 ở đài xổ số Miền Nam, bao gồm: đài An Giang 13.890.000 đồng, đài Bình Thuận 6.170.000 đồng, đài Tây Ninh 11.250.000 đồng, tổng cộng là 31.310.000 đồng. Ở đài xổ số Miền Bắc 9.429.000 đồng.
Ngày 03/02/2020, qua kiểm tra trên điện thoại hiệu Mobell có sim 0945.848.117 đã thu giữ của Nguyễn Thị Bích P, kết quả bị cáo Nguyễn Thị Bích P đã bán cho bà Lê Thị Phúc số lô 02 con đài Cà Mau tổng số tiền 900.000 đồng; số lô 02 con đài Đồng Tháp tổng số tiền 900.000 đồng; số lô 02 con đài TP Hồ Chí Minh tổng số tiền 900.000 đồng. Tổng cộng số tiền đánh bạc là 2.700.000đ.
Ngày 02/02/2020, qua kiểm tra tờ giấy ghi số thì bị cáo Nguyễn Thị Bích P đã bán cho người không xác định ho tên, địa chỉ, số đầu, đuôi, số lô 02 con đài Kiên Giang tổng cộng 262.000 đồng. Sau khi đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết, kết quả đài Kiên Giang trúng 240.000đ. Số tiền đánh bạc trong ngày là 502.000 đồng.
Ngày 30/01/2020, qua kiểm tra các tờ giấy ghi số, Nguyễn Thị Bích P đã bán cho người không xác định ho tên, địa chỉ số đầu đuôi, số lô 02 con đài An Giang tổng số tiền 3.910.000 đồng; số lô 02 con đài Bình Thuận số tiền 180.000 đồng. Sau khi đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết, kết quả đài An Giang trúng 2.400.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Thị Bích P trong ngày 30/01/2020 là 6.490.000 đồng.
Ngày 19/01/2020, qua kiểm tra trên điện thoại hiệu Mobell màu hồng không gắn sim đã thu giữ của Nguyễn Thị Bích P, kết quả bị cáo Nguyễn Thị Bích P đã bán cho Lê Thị P số lô 02 con đài Kiên Giang tổng số tiền 450.000 đồng, số lô 02 con Đài Tiền Giang tổng số tiền 450.000 đồng, số lô 02 con đài Đà Lạt tổng số tiền 450.000 đồng. Tổng cộng số tiền đánh bạc là 1.350.000đ.
Các số đã bán không xác định được ngày bán và bán đài nào (thể hiện ở quyển tập 1 và 3) Nguyễn Thị Bích P đã bán số lô 02 con và số đầu đuôi tổng cộng 1.887.000 đồng (ở quyển tập 1) và bán số lô 02 con, số lô 03 con, số đầu, đuôi, số đá tổng cộng là 7.091.000 đồng (ở quyễn tập 3).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 163/2021/HS-ST ngày 04 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau quyết định:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Thị Bích P 09 tháng tù về tội “Đánh bạc".
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Lê Nguyễn Nhất L 03 tháng tù về tội “Đánh bạc".
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên buộc các bị cáo nộp lại tiền đánh bạc, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo đều có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo và xin giảm số tiền nộp vào ngân sách Nhà nước.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 24/2022/HS-PT ngày 22 tháng 02 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau đã quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số: 163/2021/HS-ST ngày 04 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau; giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố C thụ lý, điều tra theo quy định của pháp luật.
Vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 148/2022/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau đã quyết định:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích P 01 (Một) năm tù về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Nhất L 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên buộc các bị cáo nộp lại tiền đánh bạc, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 26 tháng 9 năm 2022, bị cáo Nguyễn Thị Bích P có đơn kháng cáo cho rằng bị cáo là người bán số nộp phơi cho vợ chồng Trần Thanh N và Lê Nguyễn Nhất L nên yêu cầu xét xử đúng người, đúng tội và không làm oan cho bị cáo.
Ngày 05/10/2022 và ngày 07/10/2022, bị cáo Lê Nguyễn Nhất L có đơn kháng cáo yêu cầu xem xét lại cách tính số tiền đánh bạc đối với bị cáo và xin xử phạt Cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền.
Ngày 02/01/2023, bị cáo Lê Nguyễn Nhất L có đơn xin rút lại toàn bộ nội dung kháng cáo và Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau đã Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Nguyễn Nhất L theo Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số: 01/2023/HSPT-QĐ ngày 03 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Bích P giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Bích P; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 148/2022/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Bị cáo Lê Nguyễn Nhất L bị xử phạt 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng trước ngày mở phiên tòa phúc thẩm bị cáo có đơn rút lại toàn bộ nội dung kháng cáo và Tòa án cấp phúc thẩm đã đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Lê Nguyễn Nhất L. Bản án hình sự sơ thẩm số: 148/2022/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố C đã có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Lê Nguyễn Nhất L.
Qua kết quả xét xử sơ thẩm đã xác định bị cáo Nguyễn Thị Bích P là người làm chủ lô đề, trực tiếp bán số lô đề ăn thua bằng tiền với nhiều người mua số và bán trong thời gian nhiều ngày, với tổng số tiền đánh bạc mà bị cáo Nguyễn Thị Bích P bị truy tố, xét xử hình sự là 67.249.000 đồng, cụ thể: Ngày 30/01/2020, bán số lô đề đài Miền Nam tổng số tiền là 6.490.000 đồng. Ngày 06/02/2020, bán số lô đề tổng số tiền là 40.739.000 đồng (đài Miền Nam 31.310.000 đồng; đài Miền Bắc 9.429.000 đồng). Ngày 07/02/2020, bán số lô đề đài Miền Nam tổng số tiền 20.020.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Thị Bích P còn bán số lô đề có số tiền không đủ cấu thành tội phạm đánh bạc, không bị xét xử trong bản án gồm các ngày: Ngày 19/01/2020, số tiền 1.350.000 đồng; ngày 02/02/2020, số tiền 502.000 đồng; ngày 03/02/2020, số tiền 2.700.000 đồng; không xác định được ngày và đài xổ số, số tiền 8.978.000 đồng. Còn bị cáo Lê Nguyễn Nhất L là người trực tiếp mua số lô đề do bị cáo Nguyễn Thị Bích P bán ngày 07/02/2020, với số tiền đánh bạc là 5.400.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 22/02/2022, bị cáo Nguyễn Thị Bích P cho rằng bị cáo không phải là chủ lô đề mà chỉ là người ghi số lô đề rồi nộp phơi cho Trần Thanh Nhàn là chồng của bị cáo Lê Nguyễn Nhất L để được hưởng huê hồng. Số tiền 5.400.000 đồng án sơ thẩm xác định bị cáo Lê Nguyễn Nhất L mua số của bị cáo Phượng là không đúng mà đây là tiền do bị cáo bán số chuyển phơi cho Lê Nguyễn Nhất L để Lê Nguyễn Nhất L chuyển cho Trần Thanh N. Bị cáo cung cấp file ghi âm mà theo bị cáo đó là cuộc nói chuyện giữa bị cáo với Trần Thanh N do bị cáo tự ghi âm lại sau khi đã bị cấp sơ thẩm xét xử, để chứng minh cho lời khai bị cáo bán số nộp phơi cho Trần Thanh N. Do xuất hiện chứng cứ mới chưa được cấp sơ thẩm điều tra làm rõ, nên tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 24/2022/HS-PT ngày 22/02/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số: 163/2021/HS-ST ngày 04 tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố C; giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố C thụ lý, điều tra theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, qua trình điều tra Trần Thanh N không thừa nhận việc bị cáo Nguyễn Thị Bích P bán số và giao phơi cho Trần Thanh N. Lê Nguyễn Nhất L thì xác định bị cáo là người mua số do Nguyễn Thị Bích P bán với số tiền là 5.400.000 đồng chứ không phải Nguyễn Thị Bích P chuyển phơi cho Lê Nguyễn Nhất L, còn tin nhắn mà bị cáo Nguyễn Thị Bích P gửi là để xác nhận số, tiền mua số, đài xổ số mà bị cáo đã mua. Nội dung các đoạn ghi âm cũng không thể hiện nội dung cụ thể việc giao phơi số. Trong khi đó, lời khai ban đầu của bị cáo Nguyễn Thị Bích P là bị cáo bán số, làm thầu thông qua các hình thức là điện thoại, nhắn tin thì bị cáo nhắn tin xác nhận cho người mua và Lê Nguyễn Nhất L là người mua số của bị cáo, nay bị cáo lại khai bị cáo là người giao phơi là có sự mâu thuẫn với lời khai ban đầu và bị cáo Nguyễn Thị Bích P cũng không cung cấp thêm được chứng cứ nào khác để chứng minh cho lời khai của mình. Còn những người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan trong vụ án mà bị cáo Nguyễn Thị Bích P cho là biết rõ việc bị cáo giao phơi cho Trần Thanh N thì tại phiên tòa phúc thẩm những người này đều xác định là không biết và không biết rõ. Từ đó cấp sơ thẩm không có căn cứ để xác định Trần Thanh Nhàn làm chủ lô đề mà xác định bị cáo Nguyễn Thị Bích P là người làm chủ lô đề, trực tiếp bán số lô đề ăn thua bằng tiền với nhiều người mua số, trong thời gian nhiều ngày với tổng số tiền đánh bạc mà bị cáo Nguyễn Thị Bích P bị truy tố, xét xử hình sự là 67.249.000 đồng là có căn cứ.
Hành vi tham gia chơi số lô đề ăn thua bằng tiền của bị cáo Nguyễn Thị Bích P là vi phạm pháp luật hình sự, xâm hại đến trật tự công cộng, ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội ở địa phương. Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 148/2022/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau đã áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích P 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc” là phù hợp và có căn cứ pháp luật.
Từ các nhận định trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Bích P. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 148/2022/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Đối với tiền đánh bạc buộc các bị cáo nộp vào ngân sách Nhà nước cùng với việc xử lý các vật chứng có liên quan đã được cấp sơ thẩm xác định cụ thể và có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và không bị kháng cáo kháng nghị. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Bích P thừa nhận là tiền mà cấp sơ thẩm buộc bị cáo nộp vào ngân sách Nhà nước và xử lý vật chứng có liên quan là đúng, bị cáo chấp nhận và không có kháng cáo.
Các phần khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành, nên không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Bích P. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 148/2022/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau.
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích P 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Bị cáo Nguyễn Thị Bích P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh C; - Công an tỉnh C; - Tòa án nhân dân Tp. C; - Công an Tp. C; - Viện kiểm sát nhân dân Tp. C; - Chi cục THADS Tp. C; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: HSVA; Tòa HS; án văn; - Lưu VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thế Phương |