- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HNGĐ Phan Anh Hiền - Nguyễn Thị Lam"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Phan Anh H. Xử anh Phan Anh …
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HỒNG LĨNH TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST Ngày: 14/6/2023 " Kiện tranh chấp hôn nhân và gia đình" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HỒNG LĨNH - TỈNH HÀ TĨNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Sỹ Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Phan Văn Dũng
2. Ông: Bùi Xuân Cần
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Đức Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
Ngày 14/6/2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 11/2023/TLST-HNGĐ, ngày 04/4/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23/5/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 02/6/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Phan Anh H, sinh ngày: 18/4/1986 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn V, xã Q, huyện Đ, tỉnh T.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh ngày: 03/4/1998 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố F, phường N, thị xã H, tỉnh T.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 28/3/2023 và bản tự khai ngày 14/4/2023 nguyên đơn anh Phan Anh H trình bày như sau: Giữa nguyên đơn và bị đơn chị Nguyễn Thị L đăng ký kết hôn ngày 17/01/2023, tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ, tỉnh T, đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Sau khi đăng ký kết hôn, anh H và chị L về sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, đến thời điểm anh H làm đơn ra Tòa xin ly hôn với chị L thì hai người đã sống ly thân với nhau. Theo anh H trong cuộc sống giữa anh với chị L có nhiều quan điểm sống khác nhau, hai người không có tiếng nói chung. Sự việc của anh chị đã được gia đình nội ngoại hòa giải nhưng không đi đến kết quả gì. Do tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn anh H yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị L.
Về con chung: Anh H với chị L không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh H trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo quy định của pháp luật, Tòa án đã Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo và ấn định thời gian mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về nội dung của vụ án, nhưng tại tất cả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải anh H có mặt, chị L vắng mặt, mặc dù chị L đã nhận được các thông báo đầy đủ hợp lệ, vì vậy phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải không tiến hành được, nên Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành được phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lưu vào hồ sơ để có căn cứ giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Việc anh H làm đơn xin được ly hôn với chị L là thuộc quyền của công dân được pháp luật quy định, anh H đã cung cấp đầy đủ các tài liệu liên quan đến việc khởi kiện của mình theo đúng quy định pháp luật, đơn khởi kiện của anh H có hình thức và nội dung đầy đủ theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi đương sự cung cấp đầy đủ các chứng cứ liên quan thấy rằng nội dung khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án chị L đều vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt tất cả các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án hợp pháp cho chị L. Ngày 23 tháng 5 năm 2023, Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-HNGĐ và ấn định thời gian mở phiên Tòa vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 02/6/2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh. Sau khi ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án đã tống đạt cho chị L, chị L đã nhận được Quyết định này. Đến ngày, giờ, địa điểm như trong Quyết định đưa vụ án ra xét xử đã nêu, phiên Tòa được diễn ra, tại phiên Tòa anh H có mặt, chị L vắng mặt lần thứ nhất không rõ lý do vì vậy Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, điều đó phù hợp và được quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 02/6/2023, thì phiên Tòa được diễn ra vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 14/6/2023, địa điểm mở phiên tòa tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. Quyết định hoãn phiên tòa đã tống đạt cho anh H và chị L hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay, anh H có mặt, chị L tiếp tục vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt chị L.
Về nội dung vụ án: Nguyên nhân dẫn đến việc anh H làm đơn xin ly hôn là hai người có quan điểm sống khác nhau, không có sự bình đẳng trong cuộc sống. Khi sự việc đó xảy ra gia đình anh em nội ngoại đã hòa giải cũng như khuyên bảo nhưng không có kết quả, trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, anh H vẫn giữ nguyên quan điểm của mình là xin được ly hôn với chị L. Hội đồng xét xử thấy rằng anh H và chị L sống ly thân với nhau đã một thời gian khá dài, giữa hai người không còn tình cảm, nếu sống với nhau chỉ là hình thức không có hạnh phúc thực sự, hôn nhân không thể đạt được nên hạnh phúc không thể kéo dài, vì hai người đã sống ly thân nên tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, việc hai vợ chồng có tiếng nói chung, trở về đoàn tụ với nhau là không thể. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của anh H với chị L. Điều đó phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử miễn xét.
Về án phí: Buộc anh H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quyết định của Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Phan Anh H. Xử anh Phan Anh H được ly hôn với chị Nguyễn Thị L.
2. Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, Điều 150 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc anh Phan Anh H phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, anh H đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004351 ngày 04/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
5. Về quyền kháng cáo: Anh Phan Anh H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, chị Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND TX Hồng Lĩnh; - CCTHADS TX Hồng Lĩnh; - Nguyên đơn, bị đơn; - Lưu HS, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Sỹ Nam |