- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Ngọc Ni - Trần Xuân Phú"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Ngọc N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST Ngày 27/01/2023 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Út Mẫn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Kiều Diễm - Phó Trưởng phòng bảo trợ xã hội, Trẻ em – Bình đẳng giới và Tệ nạn xã hội, Sở lao động, Thương Binh và Xã hội.
Bà Trần Thị Ngọc Trân – Cán bộ hưu trí
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia.
Ngày 27 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 80/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2023 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lý Ngọc N, sinh ngày 20/4/1993
Địa chỉ: Ấp AB, xã BA, huyện CT, tỉnh Kiên Giang
- Bị đơn: Ông Tran Xuan P, sinh ngày 20/10/1960
Địa chỉ: 129 K Street C H NSW 2176, Australia
(Các đương sự đều có đơn yêu cầu xét xủ vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 14/11/2022 và bản tự khai ngày 12/12/2022 bà Lý Ngọc N trình bày:
Bà và ông Tran Xuan P quen biết nhau qua mai mối, sau khi tìm hiểu hai bên kết hôn và đăng ký kết hôn vào ngày 02/4/2019 tại UBND huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
Sau khi kết hôn bà N và chồng sống tại Việt Nam hòa thuận hạnh phúc khoảng 04 đến 05 tháng thì vợ chồng bà bất đồng quan điểm sống nên ông P quay về Úc. Vợ chồng bà cũng thường liên lạc với nhau qua điện thoại. Đến cuối năm 2020 khi dịch bệnh Covid – 19 bùng phát vợ chồng không còn liên lạc với nhau, dẫn đến tình cảm ngày càng phai nhạt dần, không còn quan tâm nhau và ông Phu không quay lại Việt Nam. Bà N đã nhiều lần cố gắng liên lạc, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành. Nay mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu ly hôn với ông P.
Về con chung: Ông P và bà N không con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Tran Xuan P trình bày tại văn bản đồng ý ly hôn ngày 12/8/2022 có chứng thực Đại sứ quán Việt Nam tại Úc: Về quan hệ hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẩn vợ chồng đúng như bà N trình bày. Quá trình chung sống ông bà không có con chung.
Hiện nay ông đang cư trú tại Úc và ở lại làm việc sinh sống lâu dài, còn bà N thì ở Việt Nam. Vì vậy giữa ông và bà N không thể đoàn tụ, không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng nên ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà N. Con chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tố tụng: Nguyên đơn bà Lý Ngọc N, bị đơn ông Tran Xuan P đều có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 228, Điều 238, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử vắng mặt bà Lý Ngọc N và ông Tran Xuan P.
. Về nội dung: Bà Lý Ngọc N và ông Tran Xuan P thông qua mai mối tìm hiểu, yêu thương và tự nguyện kết hôn; ông, bà thực hiện việc đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 02/4/2019. Do đó quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông P là hôn nhân hợp pháp.
Nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà Lý Ngọc N và ông Tran Xuan P là do quá trình chung sống ông bà có nhiều bất đồng quan điểm sống, cuối năm 2019 ông P quay về Úc và không quay về Việt Nam, dẫn đến tình cảm vợ chồng dần phai nhạt, không còn yêu thương quan tâm với nhau. Hiện tại bà N xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông P nên yêu cầu được ly hôn và ông P đồng ý ly hôn với bà N.
Xét thấy, hôn nhân giữa bà Lý Ngọc N và ông Tran Xuan P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lý Ngọc N đối với ông Tran Xuan P.
Về con chung: Bà N và ông P không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lý Ngọc N và ông Tran Xuân P đều xác định không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lý Ngọc N phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ tạm ứng án phí bà đã nộp 300.000đ theo biên lai thu của Cơ quan Thi hành án dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, điểm d khoản 1 Điều 469, Điều 477, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Ngọc N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lý Ngọc N được ly hôn với ông Tran Xuan P.
2. Về con chung: Bà N ông P không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
4. Về án phí: Bà Lý Ngọc N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai 0002039 ngày 24/11/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
5. Quyền kháng cáo: Bà Lý Ngọc N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được Tòa án niêm yết. Riêng ông Tran Xuan P có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Kiên Giang; - Cục THADS tỉnh Kiên Giang; - UBND huyện Châu Thành; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Út Mẫn |