vanban.org

Bản án 04/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

* Tuyên án: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Thị Cẩm H được ly hôn với ông Đỗ Văn N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Cẩm H - Đỗ Văn N"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỐT NỐT
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16-01-2023
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, TP. CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trung Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Viết Ngoan.

2. Ông Nguyễn Hữu Đức.

- Thư ký phiên tòa: Ông Điêu Khắc Khanh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Phạm Ngọc Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 229/2022/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Cẩm H, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Ấp 1, xã T, huyện C, thành phố CT.

2. Bị đơn: Ông Đỗ Văn N, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Khu vực T, phường T, quận TN, thành phố CT.

(Nguyên đơn, bị đơn đều xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 20.06.2022 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị Cẩm H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đỗ Văn N sau thời gian tìm hiểu tiến đến hôn nhân vào năm 2013 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận TN theo số đăng ký 101/2014, quyển số 01/2014, ngày 28.10.2014. Ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông N ghen tuông, nghi ngờ bà có người đàn ông khác nên thường xuyên xúc phạm bà, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vả, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Đến năm 2017, bà và ông N ly thân cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay bà H xác định không còn tình cảm với ông N nên bà yêu cầu ly hôn. Ngoài ra, do bận đi làm ăn xa nên bà H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Về con chung: Ông, bà có hai con chung tên Đỗ Thị Kiều M (nữ), sinh ngày: 27.4.2013 và Đỗ Thị Ngọc T (nữ), sinh năm: 14.11.2015. Từ khi bà và ông N ly thân cho đến nay, các con chung đều do ông N nuôi dưỡng. Khi ly hôn bà xin được nhường quyền nuôi con chung cho ông N, bà không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà xác định không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Đỗ Văn N trình bày trong quá trình giải quyết vụ án:

Vào năm 2012, ông và bà Trần Thị Cẩm H sau thời gian tự tìm hiểu thì tiến tới hôn nhân, nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn nên không tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân phường T, quận TN theo số đăng ký 101/2014, quyển số 01/2014, ngày 28.10.2014. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do bà H quen người đàn ông khác nên không chăm lo cho gia đình. Đến năm 2017 thì bà H bỏ nhà đi, mặc dù ông đã tìm kiếm và tạo cơ hội để vợ chồng hàn gắn xóa bỏ mâu thuẫn nhưng không hàn gắn được. Từ năm 2017, ông bà sống ly thân cho đến nay. Nay trước yêu cầu ly hôn của bà H thì ông đồng ý. Trong quá trình chung sống, ông thống nhất với lời trình bày của bà H là ông bà có hai con chung tên Đỗ Thị Kiều M (nữ), sinh ngày: 27.4.2013 và Đỗ Thị Ngọc T (nữ), sinh năm: 14.11.2015, hiện do ông trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, ông N yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu bà H phải cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Ông xác định không có. Ngoài ra, do bận công việc nên ông xin vắng mặt khi Tòa án triệu tập công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử.

Tại phiên tòa, Chủ tọa đã công bố đơn của đương sự đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt và tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay là đúng theo quy định pháp luật, đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Thị Cẩm H được ly hôn với ông Đỗ Văn N.

- Về con chung: Ông bà có hai con chung tên có hai con chung tên Đỗ Thị Kiều M (nữ), sinh ngày: 27.4.2013 và Đỗ Thị Ngọc T (nữ), sinh năm: 14.11.2015. Giao hai con chung cho ông N nuôi dưỡng, bà H không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân của bà Trần Thị Cẩm H và ông Đỗ Văn N là tự nguyện. Ông bà tiến tới hôn nhân vào năm 2014, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và bà H có đơn khởi kiện ly hôn đối với ông N nên Tòa án thụ lý xem xét, giải quyết theo thủ tục chung.

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Trần Thị Cẩm H và bị đơn ông Đỗ Văn N vắng mặt tại phiên tòa nhưng bà H, ông N đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bà Trần Thị Cẩm H và ông Đỗ Văn N.

Xét yêu cầu ly hôn của bà H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình chung sống giữa bà H và ông N phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông bà bất đồng quan điểm sống, ông N nghi ngờ bà H có quan hệ bất chính với người đàn ông khác dẫn đến ông bà thường xuyên cải vả. Mặc dù, bà H và ông N đã tìm cách khắc phục mâu thuẫn nhưng vẫn không thể khắc phục được, từ đó hạnh phúc vợ chồng không còn. Từ năm 2017, bà H và ông N sống ly thân cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà H và ông N đều đồng ý ly hôn. Xét vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng nay bà H và ông N xác định không còn tình cảm với nhau, ông bà có thời gian sống ly thân dài. Từ đó, cho thấy hôn nhân của ông bà lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 cho bà Trần Thị Cẩm H được ly hôn với ông Đỗ Văn N.

Về con chung: Ông, bà có hai con chung tên Đỗ Thị Kiều M (nữ), sinh ngày: 27.4.2013 và Đỗ Thị Ngọc T (nữ), sinh năm: 14.11.2015. Xét hiện nay các con chung do ông N nuôi dưỡng, khi ly hôn bà H có ý kiến được nhường quyền nuôi con cho ông N và ông N cũng có yêu cầu tiếp tục nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy giao các con chung cho ông N tiếp tục nuôi con là phù hợp. Ngoài ra, xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha mẹ, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên người được quyền yêu cầu cấp dưỡng không có văn bản yêu cầu bà H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định nên Hội đồng xét xử không buộc bà H phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn thống nhất xác định không có nên Hội đồng không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Cẩm H phải nộp theo quy định pháp luật.

Xét đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 28, 35, 39, 147, 228,238, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

* Tuyên án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Trần Thị Cẩm H được ly hôn với ông Đỗ Văn N.

2. Về con chung: Ông bà có hai con chung tên có hai con chung tên Đỗ Thị Kiều M (nữ), sinh ngày: 27.4.2013 và Đỗ Thị Ngọc T (nữ), sinh năm: 14.11.2015. Giao cháu M và cháu T cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng, bà H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung cho bà H không ai được quyền ngăn cản. Bà H, ông N có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con vì lợi ích của con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

4. Về án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Cẩm H phải chịu tiền án phí là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004749 ngày 15 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Công nhận bà H đã nộp xong.

Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ