vanban.org

Bản án 04/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phùng Văn L được ly hôn chị Đinh Thị Kiều C.

Về con chung: Giao cho anh Phùng Văn L trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Phùng Ngọc T, sinh ngày 07 tháng 9 năm 2015, kể từ khi ly hôn đến khi con chung đã thành niên. Chị Đinh Thị Kiều C không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì anh Phùng Văn L không yêu cầu. Chị Đinh Thị Kiều C có quyền, nghĩa vụ thă… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ Anh Luân - BĐ chị Châm"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phùng Văn L được ly hôn chị Đinh Thị Kiều C.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN LẬP
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST
Ngày 13-01-2023
V/v Tranh chấp về Hôn nhân và
gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẬP - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Trường

Các hội thẩm nhân dân:

- Ông Đỗ Cao Phương

- Ông Thẩm Văn Minh

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Kiều Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập tham gia phiên tòa: Ông Đinh Tiến Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 168/2022/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2022 về việc Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Phùng Văn L, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Khu Đồng Dứa xã Nga Hoàng, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ - Vắng mặt - Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Chị Đinh Thị Kiều C, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Khu Đồng Dứa xã Nga Hoàng, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ- Vắng mặt (Đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình Tòa án giải quyết, nguyên đơn anh Luân đã trình bày có nội dung:

Anh và chị Châm kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nga Hoàng, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ năm 2014. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không thống nhất trong cách xây dựng phát triển kinh tế gia đình, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, chị đã cố gắng khắc phục nhưng tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và vợ chồng không còn thương yêu nhau nữa. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị C để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Anh L xác định vợ chồng có một con chung là Phùng Ngọc T, sinh ngày 07 tháng 9 năm 2015, anh L đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị C cấp dưỡng.

Về tài sản chung, công nợ và công sức:Anh L không đề nghị Tòa án giải quyết.

Do chị C không đến Tòa án, khi Tòa án phối hợp với chính quyền địa phương và gia đình để tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của Pháp luật và yêu cầu chị Châm làm bản tự khai, tham gia phiên họp, phiên hòa giải để trình bày quan điểm về việc anh Luân xin ly hôn nhưng chị Châm không hợp tác.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi chị C đăng ký hộ khẩu và sinh sống, xác định được chị C đã biết việc anh L đang đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn nhưng không đến Tòa án làm việc, các giấy tờ của Tòa án liên quan đến việc Tòa án giải quyết việc anh L xin ly hôn chị C đều được tống đạt cho chị C nhưng chị C không hợp tác làm việc.

Quá trình Tòa án giải quyết cũng như tại phiên tòa chị C cố tình vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị C không chấp hành nên Tòa án không tiến hành mở phiên hòa giải được theo quy định của pháp luật đối với các đương sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của người tiến hành tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều thực hiện đúng quy định của Pháp luật; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn không đến Tòa án và không hợp tác để Tòa án giải quyết vụ án cũng như không có mặt tại phiên tòa hôm nay là do bị đơn tự khước từ quyền lợi và đã được Tòa án tống đạt hợp lệ theo quy định. Kiểm sát viên có quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho anh L được ly hôn chị C; Giao con chung là Phùng Ngọc T, sinh ngày 07 tháng 9 năm 2015 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh L vì anh L không yêu cầu; Về tài sản chung, công nợ, công sức đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Anh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định:

Về trình tự, thủ tục tố tụng: Anh L có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyệnYên Lập, tỉnh Phú Thọ giải quyết cho anh được ly hôn chị C, bị đơn có nơi cư trú tại xã Nga Hoàng huyệnYên Lập, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ khoản 1, Điều 28 và điểm a, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyệnYên Lập, tỉnh Phú Thọ.

Chị Châm không hợp tác làm việc cố tình lẩn tránh, Toà án đã cấp, tống đạt, thông báo đầy đủ các văn bản tố tụng đối với chị C, chị C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất ngày 27/12/2022 Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào ngày 13/01/2023, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị C vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn anh L vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo khoản 1 Điều 228; Điểm a,b khoản 1 điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:Anh L và chị C tự nguyện kết hôn năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nga Hoàng, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ, như vậy anh L và chị C kết hôn đảm bảo các quy định về điều kiện kết hôn và không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình; Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng anh L và chị C đã xảy ra mâu thuẫn, nay anh L xin ly hôn, chị C không hợp tác để làm việc; Qua xác minh tại địa phương thì thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh L và chị C như anh L trình bày là đúng, chứng tỏ tình cảm vợ chồng giữa anh L và chị C không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài; Kiểm sát viên tại phiên tòa cũng đề nghị Hội đồng xét xử cho anh L được ly hôn chị C, nên cần xử cho anh L được ly hôn chị C là phù hợp với thực tế tình cảm vợ chồng và phù hợp với quy định của pháp luật.

Chị C biết việc anh L khởi kiện đến Tòa án đề nghị giải quyết về việc ly hôn nhưng cố tình vắng mặt không đến Tòa án để giải quyết, mặc dù Tòa án đã báo cho chị C; Như vậy chị C đã từ chối quyền lợi của bản thân, cố tình lẩn tránh gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, nên vụ án phải được giải quyết vắng mặt chị C theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Xét thấy anh L đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không đề nghị chị C phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận vì hiện nay con chung của anh L và chị C đang do anh L trực tiếp nuôi dưỡng, phía chị C lại không hợp tác làm việc, do vậy để đảm bảo sự phát triển bình thường của con chung sau ly hôn nên cần giao cho anh L được tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung; Chị C vắng mặt không có quan điểm đề nghị, nếu sau này đương sự có yêu cầu sẽ xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, công nợ và công sức:Anh L không đề nghị Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Chị C vắng mặt không có quan điểm đề nghị, nếu sau này đương sự có yêu cầu sẽ xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, khoản 1,2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 3 Điều 228, điểm a,b khoản 1 điều 238, khoản 1 Điều 273 Bộ luậtTố tụng dân sự; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phùng Văn L được ly hôn chị Đinh Thị Kiều C.

2. Về con chung: Giao cho anh Phùng Văn L trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Phùng Ngọc T, sinh ngày 07 tháng 9 năm 2015, kể từ khi ly hôn đến khi con chung đã thành niên. Chị Đinh Thị Kiều C không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì anh Phùng Văn L không yêu cầu. Chị Đinh Thị Kiều C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, anh Phùng Văn L cùng các thành viên trong gia đình không ai được cản trở chị Đinh Thị Kiều C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

4. Về án phí: Anh Phùng Văn L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm; anh Phùng Văn L được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0008564 ngày 31 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ; Anh Phùng Văn L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ