vanban.org

Bản án 04/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mỹ L.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ L được ly hôn với anh Trần Thanh M. Về con chung: Giao con chung tên Trần Nguyễn Bảo Ch (nữ), sinh ngày 14/5/2020 cho chị Nguyễn Thị Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị L không yêu cầu anh Trần Thanh M cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mỹ L "Ly hôn, tranh chấp nuôi con" với Trần Thanh M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mỹ L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH HƯNG
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28-4-2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Huỳnh Thị Yến Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hải

Ông Nguyễn Thành Khoang.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trọng Tâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 14/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 2000. Địa chỉ: Ấp TC, xã BH, huyện TT, tỉnh Long An. (Có mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Thanh M, sinh năm 1999. Địa chỉ: Ấp R, xã TB, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị L trình bày:

Chị L và anh M quen biết nhau và được gia đình tổ chức lễ cưới vào năm 2019, có đăng ký kết hôn ngày 06/11/2019 tại Ủy ban nhân dân xã TB, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An. Sau khi kết hôn, chị L chung sống bên gia đình chồng, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, hay cải vã, anh M không có việc làm, không có thu nhập và sống không có trách nhiệm. Sau khi chị L sinh con và về nhà cha mẹ ruột ở thì anh M bỏ mặc, không quan tâm chăm sóc cho vợ, con. Vợ chồng đã sống ly thân gần 03 năm và hiện tại không còn tình cảm, không có khả năng hàn gắn nên chị L gửi đơn đến Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh M, yêu cầu được nuôi con chung là bé Trần Nguyễn Bảo Ch (nữ), sinh ngày 14/5/2020 hiện chị đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Trần Thanh M vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đến nay, không thể hiện ý kiến mặc dù Tòa án đã mời làm việc nhiều lần.

Kết quả xác minh của Tòa án:

Bà Nguyễn Thị Kim Ph, sinh năm 1979, địa chỉ: Ấp R, xã TB, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, là mẹ ruột của anh Trần Thanh M cung cấp thông tin: Anh M và chị L tự quen biết nhau và được gia đình tổ chức lễ cưới vào năm 2019 và đăng ký kết hôn cùng năm 2019 như chị L trình bày. Sau ngày cưới, chị L về sống bên gia đình bà ở ấp R, xã TB, huyện Vĩnh Hưng. Khi sinh con thì chị L về nhà cha mẹ ruột ở xã BH, huyện TT ở 02 tháng và không trở về nhà bà. Sau đó, con trai bà có gọi điện hỏi thì chị L yêu cầu con bà về bên gia đình chị L sống nhưng anh M không đồng ý. Do chị L không về nên bà và con bà có qua thăm vài lần rồi không lui tới nữa. Quá trình chung sống thì hai vợ chồng thường cự cãi, vì con bà còn nhỏ tuổi, ham chơi, không có việc làm, sống phụ thuộc vào cha mẹ. Bà Ph cho rằng với tình hình hiện tại thì chị L và anh M không có khả năng hàn gắn.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với các đương sự, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Riêng bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật, còn vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ và hòa giải cũng như các phiên tòa.

Về nội dung vụ án: Chị L và anh M xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Từ khi thụ lý đến nay, Tòa án đã tiến hành hòa giải, tạo điều kiện cho chị L và anh M hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên chị L vẫn kiên quyết ly hôn; phía anh M không thể hiện ý kiến và không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng, hơn nữa theo chị L trình bày thì vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh M đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L.

Về con chung: Chị L và anh M có 01 con chung sinh ngày 14/5/2020 chưa được 7 tuổi, do chị L nuôi dưỡng từ trước đến nay, chị L có yêu cầu tiếp tục nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L. Do chị L không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L không yêu cầu nên không xem xét.

Từ những cơ sở trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các điều 28, 35, 39, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mỹ L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố Tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại ấp R, xã TB, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Anh Trần Thanh M vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án, xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh M xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TB, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An vào năm 2019 nên đây là hôn nhân hợp pháp, việc chị L xin ly hôn sẽ được xem xét giải quyết theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về mâu thuẫn vợ chồng: Chị L cho rằng cuộc sống vợ chồng giữa chị và anh M đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng chỉ một thời gian ngắn sau khi về chung sống, nguyên nhân do anh M không có nghề nghiệp, ham chơi, sống phụ thuộc cha mẹ chồng, anh M cũng không quan tâm, chăm sóc vợ con lúc chị sinh con. Chị L nhiều lần khuyên can nhưng anh M không sửa đổi từ đó tình cảm vợ chồng ngày lạnh nhạt và đã sống ly thân cách nay gần 03 năm, hiện tại vợ chồng sống mỗi người một nơi không quan tâm đến nhau nữa nên khả năng hàn gắn không còn, do đó chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Minh, chấm dứt quan hệ vợ chồng.

Anh M vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến, bỏ mặc không quan tâm kết quả, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng cũng không thể hiện việc có tranh chấp về con chung, tài sản chung, nợ chung.

Kết quả xác minh của Tòa án cũng có nội dung phù hợp với lời trình bày của chị L.

Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh M đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống vợ chồng không thể kéo dài, căn cứ quy định tại các điều 19, 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình, có cơ sở để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L.

Về con chung: Chị L và anh M có một con chung tên Trần Nguyễn Bảo Ch (nữ), sinh ngày 14/5/2020, dưới 36 tháng tuổi và hiện chị L đang nuôi dưỡng. Chị L yêu cầu được nuôi con và anh M cũng không có tranh chấp. Xét thấy việc giao con chung cho chị L tiếp tục nuôi là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận. Do chị L không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Chị L xác định không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị L phải chịu án phí Hôn Nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quan điểm của Kiểm sát viên tham dự phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ các điều 19, 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mỹ L.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ L được ly hôn với anh Trần Thanh M.

Về con chung: Giao con chung tên Trần Nguyễn Bảo Ch (nữ), sinh ngày 14/5/2020 cho chị Nguyễn Thị Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị L không yêu cầu anh Trần Thanh M cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Chuyển 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng theo biên lai số 0003870 ngày 17/02/2023 sang tiền án phí.

Báo cho đương sự có mặt tại phiên tòa được biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ