- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim N.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH HÓA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST Ngày: 20/02/2023 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH HÓA, TỈNH LONG AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thúy Lành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Duy Bình
Ông Võ Thanh Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
Ngày 20 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 80/2022/TLST-HNGĐ ngày 19/10/2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Kim N, sinh năm 1995; Địa chỉ: Ấp An Thạnh, xã An Ninh Tây, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1993; Địa chỉ: Ấp Vườn Xoài, xã Thuận Nghĩa Hòa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An. (Vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Nguyên đơn – bà Phan Thị Kim N trình bày: Bà N và ông Đ đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Thuận Nghĩa Hòa, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An vào ngày 27/12/2018. Trong quá trình chung sống, có 01 con chung tên Lê Thị Ngọc Trân, sinh ngày 04/5/2019. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên vào khoảng đầu năm 2021 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn và sống ly thân từ đó cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Đ không lo cho cuộc sống vợ chồng, thường xuyên nhậu nhẹt, vợ chồng thường xuyên cãi vã, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Bà N nhiều lần khuyên chồng nhưng không có kết quả. Nay, bà N nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn, bà N không còn tình cảm với ông Đ nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Lê Văn Đ. Về con chung, bà N yêu cầu được quyền nuôi dưỡng Lê Thị Ngọc Trân, sinh ngày 04/5/2019 và yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Con hiện đang sống với bà N. Về tài sản chung và nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn, ông Lê Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày kiến về yêu cầu của bà N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Bị đơn Lê văn Đ có địa chỉ tại xã Thuận Nghĩa Hòa, huyện Thạnh Hóa . Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
Về hôn nhân giữa bà N và ông Đ: Bà N yêu cầu ly hôn với ông Đ với lý do vợ chồng thương xuyên mâu thuẫn. Ông Đ không chăm lo cho cuộc sống gia đình. Từ khi kết hôn đến nay, bà N, ông Đ sống chung tại gia đình cha mẹ ruột bà N tại xã An Ninh Tây, huyên Đức Hòa. Vợ chồng chưa tạo lập được tài sản riêng nào. Ông Đ thường xuyên nhậu nhẹt, không lo cho vợ con. Bà N nhiều lần khuyên can nhưng không Đ kết quả nên bà N yêu cầu ly hôn. Ông Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày về yêu cầu của bà N. Như vậy, ông Đ không có thiện chí hàn gắn hôn nhân. Bà N yêu cầu ly hôn là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Bà N cung cấp giấy khai sinh con Lê Thị Ngọc Trân, sinh ngày 04/5/2019 là con chung của bà N và ông Đ. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng một tháng đến khi con đủ 18 tuổi. Xét thấy, ông Đ không có ý kiến về việc nuôi con. Mặt khác, con Lê Thị Ngọc Trân hiện đang sống với bà N, để đảm bảo ổn định cho bé nên chấp nhận yêu cầu của bà N về việc tiếp tục trực tiếp nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con, bà bà N yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng đến khi con đủ 18 tuổi. Xét thấy, ông Đ không có ý kiến gì về việc cấp dưỡng nuôi con. Mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng là phù hợp với điều kiện sinh hoạt hiện nay ở địa phương nên chấp nhận yêu cầu của bà N.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu giải quyết. Ông Đ không có ý kiến trình bày nên không đề cập trong vụ án này.
Về án phí: Bà N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 85 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim N.
1.1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị Kim N với ông Lê Văn Đ.
1.2. Về con chung: Giao con Lê Thị Ngọc Trân, sinh ngày 04/5/2019 cho bà Phan Thị Kim N trực tiếp nuôi dưỡng (con hiện đang sống với bà N). Ông Lê Văn Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng từ 01/3/2023 đến khi con đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét trong vụ án này.
2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Phan Thị Kim N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Khấu trừ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí bà N đã nộp theo biên lai số 0011137 ngày 19 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Hóa sang thi hành án phí. Bà N không phải nộp thêm.
Ông Lê Văn Đ phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con sung công quỹ nhà nước.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoạc bản án được niêm yết.
4. Về việc thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Thạnh Hóa; - Chi cục THADS huyện Thạnh Hoá; - UBND xã Thuận Nghĩa Hòa, huyện Thạnh Hóa; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Thúy Lành |