vanban.org

Bản án 04/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Là.

Về con chung: Giao con chung Là Nguyễn Gia H, sinh ngày 21/7/2016 cho chị Là trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh M đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Là - Mạnh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Là.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÓC SƠN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST
Ngày 13/01/2023
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Hƣơng

2. Bà Nguyễn Thị Hải Yến

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Thiều Văn Thịnh- Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ Là số: 774/2022/TLST-HNG ngày 11 tháng 11 năm 2022 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2021/QĐXX-ST ngày 21 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Là, sinh năm 1989

Nơi cư trú: Thôn a, xã Y Kh, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1983

Nơi cư trú: Thôn N N, xã T D, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

Có mặt chị Là, vắng mặt anh M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 29/9/2022 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn Là chị Nguyễn Thị Là trình bày:

- Về tình cảm: Chị và anh Nguyễn Văn M lấy nhau tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 27/4/2015 tại UBND xã T D, Sóc Sơn, Hà Nội. Sau khi lấy nhau chị về Làm dâu gia đình anh M vài tháng thì ra ở riêng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc chỉ được vài tháng đến cuối năm 2015 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh M bạo lực gia đình, thường đánh chị vô cớ. Gia đình hai bên đã khuyên nhủ nH anh M không thay đổi mà tiếp tục đánh chị. Do Không thể chung sống với anh M nên đầu năm 2017 chị phải đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở. Trong thời gian chị và con ở nhà ngoại anh M chỉ đến hỏi thăm một lần sau đó không đến lần nào, cũng không chu cấp gì cho con. Vợ chồng chị sống ly thân từ năm 2017 đến nay, không quan tâm, chăm sóc gì nhau. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị ly hôn anh M.

- Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung Là Nguyễn Gia H, sinh ngày 21/7/2016. Hiện nay cháu đang ở với chị, sức khỏe tốt, chị đề nghị tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị đang ở nhà bố mẹ chị và đang Là nhân viên Công ty TNHH Hoàng Vũ 869, thu nhập trung bình khoảng 20.000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức, nợ: Chị không đề nghị Tòa àn giải quyết.

* Đối với bị đơn Là anh Nguyễn Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nH anh chỉ đến Tòa án Làm việc một lần và ghi ý kiến không đồng ý ly hôn. Tòa án đã tiến hành giao thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ cho anh M nH anh M không đến Tòa án Làm việc, cũng không có văn bản ghi ý kiến của mình đối với các yêu cầu của chị Là. Vì vậy Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh M.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử, chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Là, cho chị Là được ly hôn anh M; Về con chung: giao con chung Là Nguyễn Gia H, sinh ngày 21/7/2016 cho chị Là trực tiếp nuôi dưỡng, tự chị đảm nhiệm việc nuôi con; về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết; Về án phí: Chị Là phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây Là vụ án Hôn nhân gia đình tranh chấp tranh chấp về việc ly hôn. Bị đơn Là anh Nguyễn Văn M có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay tại thôn N N, xã T D, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Do vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn thụ lý, giải quyết Là đúng thẩm quyền.

Về sự vắng mặt của bị đơn anh Nguyễn Văn M tại phiên tòa: Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn đã tống đạt hợp lệ các quyết định cho anh M nH anh M vắng mặt lần 2 không có Là do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh M.

Về nội dung: Chị Nguyễn Thị Là và anh Nguyễn Văn M kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T D, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội ngày 27/4/2015. Đây Là cuộc hôn nhân hợp pháp.

Vợ chồng chị Là, anh M chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2017 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra cãi nhau, đánh nhau. Gia đình hai bên đã hòa giải nH không được. Từ đầu năm 2017 chị Là về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân, không quan tâm, chăm sóc gì nhau từ đó đến nay. Bản thân anh M không đồng ý ly hôn nH anh không có biện pháp hàn gắn quan hệ vợ chồng, không đến Tòa án để bảo vệ cuộc hôn nhân của mình chứng tỏ mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Là Là hoàn toàn phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Là, anh M có 01 con chung Là Nguyễn Gia H, sinh ngày 21/7/2016. Ly hôn chị Là đề nghị tiếp tục nuôi con chung. Xét yêu của chị Là, HĐXX thấy: Chị Là hiện Là nhân viên Công ty TNHH Hoàng Vũ 869, thu nhập trung bình khoảng 20.000.000 đồng/tháng. Bố mẹ chị Là có ý kiến sẽ tạo điều kiện về chỗ ở lâu dài cho hai mẹ con. Như vậy chị Là có chỗ ở và thu nhập ổn định. Mặt khác, kể từ khi vợ chồng anh chị sống ly thân, cháu H ở với chị Là, sức khỏe ổn định, hiện nay cháu còn nhỏ rất cần sự chăm sóc, yêu thương của người mẹ. Do đó việc giao cháu H cho chị Là trực tiếp nuôi dưỡng Là phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lơi ích hợp pháp cho cháu H.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Là, anh M không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức, nợ: Chị

Là, anh M đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Là phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Là. Cho chị Nguyễn Thị Là được ly hôn anh Nguyễn Văn M.

2. Về con chung: Giao con chung Là Nguyễn Gia H, sinh ngày 21/7/2016 cho

chị Là trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh M đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có quyết định khác có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Anh M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được

cản trở.

3. Về tài sản chung, nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, công sức, nợ: Hai bên không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Là phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, chị được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn theo biên lai số 0005546 ngày 10/11/2022.

Chị Là có quyền kháng trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Cỡ chữ