- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Điệp Thông"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lãnh Thị Đ xin ly hôn anh Trần Chung T.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN ——————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST Ngày 27/3/2023 V/v Kiện xin ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bàn Thị Thu Phương.
2. Bà Đặng Thị Đào.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mạnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương tham gia phiên tòa: Ông Lương Dương Tùng Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 188/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022 về việc Kiện xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Lãnh Thị Đ, sinh năm 1993. HKTT: Xóm Đ, xã C, huyện P, tỉnh T.
- Bị đơn: Anh Trần Chung T, sinh năm 1989 HKTT: Xóm Đ, xã C, huyện P, tỉnh T. Hiện đang cải tạo tại Phân trại số 3, Trại giam P4 Địa chỉ: xã C, huyện P, tỉnh T.
(Nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lãnh Thị Đ trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Trần Chung T năm 2010, trước khi kết hôn được tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Vợ chồng sống hạnh phúc trong thời gian đầu. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2014, nguyên nhân là do anh T thường xuyên chơi bời, nghiện hút, không chăm lo cho gia đình. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Chị xác định không còn tình cảm, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Chung Lập, sinh ngày 19/10/2011, hiện con đang do chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Nợ chung: Không có.
Tại Bản tự khai ngày 12/01/2023 và Biên bản ghi lời khai, bị đơn anh Trần Chung T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Lãnh Thị Đ năm 2011, trước khi kết hôn được tự nguyện tìm hiểu khoảng 01 năm, tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng gia đình anh tại xóm Đồi Chè, xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương. Vợ chồng sống hạnh phúc sau đó xảy ra mâu thuẫn. Cách đây khoảng 04 năm anh có nghiện ma túy, sau đó anh bị Tòa án xử phạt 30 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Chị Đ có đơn xin ly hôn quan điểm của anh là không đồng ý vì anh vẫn còn tình cảm với chị Đ.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Chung Lập, sinh ngày 19/10/2011, do chưa đồng ý ly hôn nên anh chưa có quan điểm về con chung.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án, do anh Trần Chung T đang cải tạo tại Trại giam Phú Sơn nên không thể tham gia hòa giải được. Toà án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào ngày 17/01/2023 và quyết định đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa công khai.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271 và Điều 273 của BLTTDS năm 2015; Căn cứ vào các Điều 51, 52, 56, 58, 81, 82, và điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị HĐXX: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lãnh Thị Đ xin ly hôn anh Trần Chung T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lãnh Thị Đ được ly hôn anh Trần Chung T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Chung Lập, sinh ngày 19/10/2011. Giao con Trần Chung Lập cho chị Lãnh Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh T do chị Đ không có yêu cầu.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.
Nợ chung: Không có.
Về án phí: Chị Đ chịu án phí và các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, bị đơn anh Trần Chung T có nơi cư trú đăng ký HKTT tại xóm Đồi Chè, xóm Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên toà: Tại Đơn xin xét xử vắng mặt và Bản tự khai ngày 12/01/2023 của anh Trần Chung T có xác nhận của Trại Giam Phú Sơn xác định, anh Trần Chung T hiện đang cải tại tại Trại giam Phú Sơn. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân huyện Phú Lương đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Trần Chung T, căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lãnh Thị Đ và anh Trần Chung T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 06/5/2011 của UBND xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên). Vì vậy được xác định là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẫn từ năm 2019 do bất đồng về quan điểm sống. Quá tình chung sống anh T nghiện ma túy, chị khuyên giải nhiều lần nhưng anh T không từ bỏ đỏ. Sau đó anh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và phải đi cải tạo, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đ cho chị Đ được ly hôn với anh T là phù hợp với thực tế và quy định pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng chị Đ, anh T có 01 con chung là Trần Chung Lập (sinh ngày 19/10/2011); hiện đang ở với mẹ là chị Lãnh Thị Đ Tại đơn trình bày nguyện vọng con Trần Chung Lập có nguyện vọng muốn ở với mẹ. Tại bản tự khai và tại phiên tòa, chị Đ đều có nguyện vọng muốn nuôi con, chị xác định đủ điều kiện kinh tế để nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện anh T đang chấp hành án tại Trại giam Phú Sơn 4 nên việc giao con cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với nguyện vọng và quyền lợi về mọi mặt của con. Chị Đ không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án chị Đ, anh T xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về nợ chung: Các đương sự xác định không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Chị Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 264 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lãnh Thị Đ xin ly hôn anh Trần Chung T.
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271 và Điều 273 của BLTTDS năm 2015; Điều 51, 52, 56, 58, 81, 82 và điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lãnh Thị Đ được ly hôn anh Trần Chung T.
2. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Trần Chung Lập, sinh ngày 19/10/2011. Giao con Trần Chung Lập cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trần Chung T. Anh T có quyền đi lại thăm nom con chung.
3. Về tài sản chung: Các đương sự không có yêu cầu.
4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
5. Về án phí: Chị Lãnh Thị Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp biên lai thu số 0003555 ngày 12/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lương.
6. Quyền kháng cáo: Thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với nguyên đơn, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án đối với bị đơn./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Phú Lương; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Chi cục THA dân sự huyện Phú Lương; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - UBND xã Cổ Lũng; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ; VP, TK, TP. HỘI THẨM NHÂN DÂN Đặng Thị Đào – Bàn Thị Thu Phương | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Ngọc Linh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Linh |