vanban.org

Bản án 04/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lý Đình P được ly hôn với chị Đồng Thị Hồng D. Về con chung: Giao cháu Lý Hà C, sinh ngày 12/7/2011 cho anh Lý Đình P là người trực tiếp nuôi cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi. Chị D có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với anh P là người trực tiếp nuôi và có quyề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phong, Dương"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P THỔ
TỈNH LAI C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST
Ngày 10 tháng 01 năm 2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Quang Minh; Ông Lò Văn Chiên.

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P Thổ, tỉnh Lai C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P Thổ, tỉnh Lai C tham gia phiên tòa: Ông Đào Mạnh Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P Thổ, tỉnh Lai C xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 11/2022/TLST-HNGĐ, ngày 31 tháng 10 năm 2022, về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lý Đình P, sinh năm: 1988, địa chỉ: Bản T, xã B, huyện P, tỉnh Lai C, có mặt.

Bị đơn: Chị Đồng Thị Hồng D, sinh năm: 1982, địa chỉ: Bản T, xã B, huyện P, tỉnh Lai C, vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Lý Đình P trình bày:

Anh Lý Đình P và chị Đồng Thị Hồng D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 07/9/2010, tại Ủy ban nhân dân xã Khổng Lào, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh P, chị D chung sống hạnh phúc được khoảng vài năm. Do gia đình bố mẹ hai bên anh chị ở gần nhau nên anh P và chị D thường xuyên sinh sống, đi lại ở hai nơi là bản Thèn Thầu, xã Bản Lang và bản Huổi Phặc, xã Khổng Lào, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Từ tháng 7 năm 2015, anh P ra nước ngoài làm ăn. Đến tháng 4 năm 2016, anh P về nước thì chị D đã bỏ nhà đi. Chị D không nói cho ai biết chị đã đi đâu, làm gì. Anh P đã tìm mọi cách để liên lạc với chị D, mong muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng chị D không muốn quay về đoàn tụ gia đình và không nói cho anh P biết chị đang ở đâu. Thỉnh thoảng, chị D vẫn gọi điện về hỏi thăm con riêng của chị D và gửi tiền về cho con riêng. Hiện nay, chị D không có thai, không nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Anh P không còn tình cảm với chị D nữa nên đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị D.

Về con chung: Anh P và chị D có 01 con chung là cháu Lý Hà C, sinh ngày 12/7/2011. Từ khi anh P và chị D sống ly thân thì cháu C ở cùng với anh P, được anh P nuôi dưỡng, quan tâm, chăm sóc. Sau khi ly hôn, anh P mong muốn được nuôi cháu C, không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh P, chị D không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Tại phiên hòa giải, bị đơn vắng mặt nên vụ án không hòa giải được. Bị đơn không có yêu cầu phản tố.

Theo lời khai của cháu Lý Hà C: Hiện nay, cháu đang ở với bố, được bố yêu thương, quan tâm, chăm sóc. Nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với bố.

Kết quả xác minh của Tòa án, xác định: Anh P hiện đang có đăng ký hộ khẩu thường trú và đang cư trú tại bản Thèn Thầu, xã Bản Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Từ trước, trong và sau khi chị D kết hôn với anh P, Chị D có hộ khẩu thường trú tại bản Huổi Phặc, xã Khổng Lào, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Tuy nhiên, do hiện nay chị D đã bỏ đi khỏi địa phương quá thời gian là 01 năm nên đã bị xóa tên trong sổ hộ khẩu. Do chị D bỏ nhà đi, không sinh sống tại địa phương, chị D không khai báo tạm vắng, không cung cấp thông tin về nơi ở của bản thân nên không ai biết chị D đang ở đâu. Từ khi bỏ nhà đi, chị D vẫn thường xuyên liên lạc, gọi điện về bên nhà mẹ đẻ để hỏi thăm gia đình và con riêng của chị D. Chị D đã biết việc anh P xin ly hôn, chị D nhất trí ly hôn với anh P, nhất trí để anh P nuôi con sau ly hôn. Chị D không có tranh chấp về tài sản, không có yêu cầu phản tố.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đã đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo quy định tại Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt không có lý do.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 40, các Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận đơn khởi kiện của anh Lý Đình P, xử: Về quan hệ hôn nhân: Anh Lý Đình P được ly hôn với chị Đồng Thị Hồng D. Về con chung: Giao cháu Lý Hà C cho anh Lý Đình P chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh P phải tạo điều kiện cho chị D được thăm nom, chăm sóc cháu C theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào diễn biến phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P Thổ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là anh Lý Đình P có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa anh P và bị đơn là chị Đồng Thị Hồng D. Tại thời điểm anh P gửi đơn đến Tòa án xin ly hôn thì anh P không xác định được nơi ở của bị đơn ở đâu do bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Anh P chỉ xác định được nơi cư trú cuối cùng của bị đơn là tại bản Thèn Thầu, xã Bản Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Vì vậy, đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có yêu cầu phản tố nên vụ án được xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Lý Đình P và chị Đồng Thị Hồng D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Khổng Lào, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng anh P, chị D chung sống hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì. Nhưng từ khi anh P đi làm ăn ở nước ngoài về thì chị D đã bỏ nhà đi, không nói cho ai biết chị D đi đâu, làm gì. Anh P và gia đình đã tìm mọi cách để liên lạc, hàn gắn hạnh phúc gì đình nhưng chị D không trở về đoàn tụ với anh P. Hiện nay, anh P và con gái đang sống tại bản Thèn Thầu, xã Bản Lang. Chị D không quan tâm, hỏi thăm, chăm sóc đối với anh P và con chung, không chăm lo xây dựng hạnh phúc gia đình. Hiện nay, anh P không còn tình cảm với chị D nữa và muốn được ly hôn với chị D. Chị D cũng nhất trí ly hôn với anh P. Tòa án đã thông báo phiên hòa giải và triệu tập các đương sự để tiến hành hòa giải nhưng tại phiên hòa giải, chị D vắng mặt không có lý do. Giữa chị D và anh P không còn có sự quan tâm, chia sẻ, chăm sóc, yêu thương nhau, quan hệ hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại thời điểm hiện nay, chị D không có thai, không nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh P, giải quyết cho anh P được ly hôn với chị D theo quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Từ khi vợ chồng anh P, chị D sống ly thân, cháu Lý Hà C sống cùng với bố, được bố quan tâm, chăm sóc. Khi được Tòa án hỏi ý kiến, cháu C trình bày cháu có nguyện vọng được ở với bố. Hiện nay, anh P đang có khả năng lao động, có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc cháu C và có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu C. Chị D cũng nhất trí để anh P nuôi dưỡng cháu C. Vì vậy, để đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu C cho anh P là người trực tiếp nuôi cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị D có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với anh P là người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh P cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh P không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản: Anh P và chị D không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P Thổ tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40, các Điều 147, 227, 228, 266, 271, 273, của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lý Đình P được ly hôn với chị Đồng Thị Hồng D.

- Về con chung: Giao cháu Lý Hà C, sinh ngày 12/7/2011 cho anh Lý Đình P là người trực tiếp nuôi cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi. Chị D có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với anh P là người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh P cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Lý Đình P không yêu cầu chị Đồng Thị Hồng D phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản: Anh Lý Đình P và chị Đồng Thị Hồng D không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lý Đình P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà anh P đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0001247, ngày 31/10/2022, của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, anh P đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ