vanban.org

Bản án 04/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị X.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị X được ly hôn với anh Lê Quang C. [2] Về con chung: Giao cháu Lê Thị Thanh Thủy, sinh ngày 19/11/2007 cho anh Lê Quang C; giao cháu Lê Phương V, sinh ngày 29/8/2014 cho chị Hồ Thị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuoi con Hồ Thị X và Lê Quang C"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị X.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K-TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 04/4/2023
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Quế.

2. Ông Đỗ Khắc Vũ.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Sen - Thư ký Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nông Trường Sinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04/4/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) thụ lý số: 231/2022/TLST-HNGĐ ngày 11/10/2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22/3/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị X, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Tổ dân phố 13, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai.

- Bị đơn: Anh Lê Quang C, sinh năm 1983;

Địa chỉ: Tổ dân phố 13, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai.

Chị X có đơn xin xét xử vắng mặt; anh C vắng mặt lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ nguyên đơn chị Hồ Thị X trình bày: Chị và anh C qua thời gian quen biết, tìm hiểu đã tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 22/11/2007 tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai.

Trong quá trình chung sống giữa chị và anh C đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do khác nhau về quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, không tin tưởng lẫn nhau nên hay xảy ra cãi vã, anh C không tôn trọng chị dẫn đến cuộc sống hôn nhân ngày càng căng thẳng, không có hạnh phúc. Chị đã nhiều lần nộp đơn xin ly hôn đến Toà án, sau đó được Toà án hoà giải về đoàn tụ nhưng vợ chồng vẫn không thể chung sống hoà hợp được. Mặc dù, chị và anh C vẫn còn chung sống với nhau nhưng không ai còn quan tâm gì đến cuộc sống của nhau nữa. Do mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, hôn nhân không thể hàn gắn được nên chị X yêu cầu Tòa giải quyết cho chị và anh C được ly hôn với nhau.

Về con chung: Chị X và anh C có 02 con chung tên Lê Thị Thanh Thủy, sinh ngày 19/11/2007 và Lê Phương V, sinh ngày 29/8/2014. Sau khi ly hôn, chị X có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con V và giao con T cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con trưởng thành, có khả năng lao động. Chị và anh C không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị X và anh C có tài sản chung và nợ chung nhưng tự thoả thuận giải quyết với nhau nên chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 12/10/2022, bị đơn anh Lê Quang C trình bày: Chị X yêu cầu xin ly hôn với anh thì anh không đồng ý ly hôn với chị X.

Về con chung: Anh và chị X có 02 con chung tên Lê Thị Thanh Thủy, sinh ngày 19/11/2007 và Lê Phương V, sinh ngày 29/8/2014; nếu ly hôn anh muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung T và V cho đến khi các con trưởng thành, có khả năng lao động. Anh không yêu cầu chị X phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh và chị X có tài sản chung và nợ chung nhưng tự thoả thuận giải quyết với nhau nên anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Các tài liệu, chứng cứ được nguyên đơn giao nộp, gồm: 01 Trích lục kết hôn mang tên: Hồ Thị X và Lê Quang C (bản sao); 01 Căn cước công dân mang tên Hồ Thị X (bản sao); 01 Căn cước công dân mang tên Lê Quang C (bản pho to); 02 Giấy khai sinh mang tên Lê Phương V và Lê Thị Thanh Thủy (bản sao); 01 Sổ hộ khẩu gia đình đứng tên chủ hộ Lê Quang C (bản sao).

Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh: Chị X và anh C tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai vào ngày 22/11/2007; anh C và chị X có 02 con chung tên Lê Thị Thanh Thủy, sinh ngày 19/11/2007 và Lê Phương V, sinh ngày 29/8/2014. Điều này được thể hiện qua chứng cứ do chị X giao nộp là 01 Trích lục kết hôn mang tên: Hồ Thị X và Lê Quang C (bản sao); 02 Giấy khai sinh mang tên Lê Phương V và Lê Thị Thanh Thủy (bản sao).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K phát biểu ý kiến:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đối với nguyên đơn: Đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của đương sự được quy định tại Điều 6, Điều 96, Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đối với bị đơn: Không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của đương sự được quy định tại Điều 6, Điều 96, Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 93, Điều 94, Điều 95, Điều 108, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 266 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Áp dụng vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị X được ly hôn với anh Lê Quang C.

Về con chung: Giao cháu Lê Thị Thanh T sinh ngày 19/11/2007 cho anh Lê Quang C; giao cháu Lê Phương V, sinh ngày 29/8/2014 cho chị Hồ Thị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh C và chị X không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.

Về án phí: Chị Hồ Thị X là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

(Có kèm theo bài phát biểu)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Chị Hồ Thị X có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” giữa chị và anh Lê Quang C đang sinh sống tại Tổ dân phố 13, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai.

Tại phiên tòa, bị đơn anh Lê Quang C đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; chị Hồ Thị X có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Chị Hồ Thị X và anh Lê Quang C tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 22/11/2007 tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa chị X và anh C là hợp pháp.

Về yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị X:

Chị X cho rằng trong quá trình chung sống giữa chị và anh C đã phát sinh nhiều mẫu thuẫn do khác nhau về quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, vợ chồng không còn tiếng nói chung, không còn quan tâm gì đến nhau dẫn đến cuộc sống hôn nhân ngày càng căng thẳng, không có hạnh phúc. Chị X đã nhiều lần nộp đơn ly hôn với anh C, nhưng sau đó vợ chồng đã được Toà án hoà giải về chung sống với nhau nhưng cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, vợ chồng không thể hoà hợp được. Mặc dù, anh C không đồng ý ly hôn với chị X nhưng Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh C đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh C không đến, thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến việc tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng với chị X. Bên cạnh đó, tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 02/11/2022 thể hiện trong cuộc sống hôn nhân giữa chị X và anh C thường hay xảy ra mâu thuẫn, chị X nhiều lần nộp đơn xin ly hôn với anh C.

Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị X và anh C đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ quy định tại các Điều 51 và Điều 56 của Luật HN&GĐ năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị X, xử cho chị X được ly hôn với anh C.

Về con chung: Chị Hồ Thị X và anh Lê Quang C có 02 con chung tên Lê Thị Thanh Thủy, sinh ngày 19/11/2007 và Lê Phương V, sinh ngày 29/8/2014. Anh C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung; chị X có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con V và giao con T cho anh C nuôi dưỡng. Xét về khả năng và điều kiện của người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con, thì thấy rằng: Cả chị X và anh C đều có điều kiện về mọi mặt, đảm bảo cho việc chăm sóc, nuôi dạy con, cả hai đương sự đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giao con chung tên Lê Thị Thanh Thủy, sinh ngày 19/11/2007 cho anh C và giao con Lê Phương V, sinh ngày 29/8/2014 cho chị Hồ Thị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị Hồ Thị X và anh Lê Quang C đều không yêu cầu nên không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hồ Thị X và anh Lê Quang C có tài sản chung và nợ chung nhưng tự thoả thuận giải quyết với nhau nên đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Hồ Thị X là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 93, Điều 94, Điều 143, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị X.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị X được ly hôn với anh Lê Quang C.

[2] Về con chung: Giao cháu Lê Thị Thanh Thủy, sinh ngày 19/11/2007 cho anh Lê Quang C; giao cháu Lê Phương V, sinh ngày 29/8/2014 cho chị Hồ Thị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị X và anh C không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.

Người không trực tiếp nuôi dưỡng con vẫn có quyền đến thăm nom con, người trực tiếp nuôi con không được cản trở nếu họ không lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con, trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Hai đương sự đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

[3] Về án phí: Chị Hồ Thị X phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị X đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số: 0003639 ngày 11/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Gia Lai.

Bản án này được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[4] Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ