- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chảo Sử Mẩy - Chảo Duần Thiền"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Chảo Sử Mẩy và anh Chảo Duần Thlà quan hệ vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂNHUYỆN BÁT XAT TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HNGĐ - ST Ngày 15/3/2023 “V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Nguyễn Xuân Hùng
2. Bà Phàng Thị Cở
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Lý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bát Xát.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 15/3/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2023/TLST - HNGĐ ngày 08/2/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXX - ST ngày 28/3/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Chảo Sử M, sinh năm 1980
Nghề nghiệp: Tự do; Dân tộc: Dao
Địa chỉ: Thôn Trung Ch, xã Dền Sáng, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
Bị đơn: Anh Chảo Duần Th, sinh năm 1976
Nghề nghiệp: Tự do; Dân tộc: Dao
Địa chỉ: Thôn Trung Ch, xã Dền Sáng, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Đội 17, phân trại số 1 thuộc Trại giam
Hồng Ca, xã Hưng Khánh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn chị Chảo Sử Mẩy: Bà Nguyễn Thị Hương Thủy - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt
Nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và tại đơn xin xét xử vắng mặt
nguyên đơn chị Chảo Sử Mẩy trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Chảo Duần Thchung sống như vợ chồng từ năm 1997 đến nay, không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật mà chỉ tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương, quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Thiền nghiện ma túy, phát tán tài sản gia đình, từ khi nghiện ma túy anh Thiền không còn tu trí làm ăn cùng chị Mẩy xây dựng gia đình kinh tế, chị Mẩy đã nhiều lần động viên anh Thiền cai nghiện nhưng anh Thiền không thay đổi, không những thế anh Thiền còn thường gây sự, chửi mắng, đánh đập chị. Từ năm 2017 đến nay chị Mẩy và anh Chảo Duần Thđã sống ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa. Mâu thuẫn của anh chị đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không có kết quả gì. Tháng 6 năm 2017 anh Chảo Duần Thđã bị bắt và bị xét xử 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” hiện anh Chảo Duần Thđang phải chấp hành án phạt tù tại Đội 17, phân trại số 1 thuộc Trại giam Hồng Ca, xã Hưng Khánh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, thời gian chấp hành án phạt tù còn lâu, chị không chờ đợi được. Nay chị xét thấy tình cảm không còn, mâu thuẫn không khắc phục được chị có nguyện vọng được ly hôn với anh Chảo Duần Thiền.
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị Mẩy và anh Chảo Duần Thcó hai người con chung cháu Chảo Láo Tả, sinh ngày 15/06/2000 và cháu Chảo Tả Mẩy, sinh ngày 12/10/2001. Hiện tại các cháu đã đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi) chị Mẩy không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị và anh Chảo Duần Thkhông vay nợ ai và cũng không cho ai nợ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn chị Chảo Sử Mẩy là bà Nguyễn Thị Hương Thủy trình bày.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Chảo Sử Mẩy và anh Chảo Duần Thchung sống như vợ chồng từ năm 1997 đến nay, không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật mà chỉ tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương, quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Thiền mắc vào tệ nạn xã hội, nghiện ma túy mặc dù chị Mẩy đã nhiều lần động viên anh Thiền cai nghiện nhưng anh Thiền không thay đổi. Chị Mẩy và anh Chảo Duần Thđã sống ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa từ năm 2017. Mâu thuẫn của anh chị đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không có kết quả gì. Năm 2017 anh Chảo Duần Thbị Tòa án nhân dân huyện Bát Xát xét xử 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” hiện anh Chảo Duần Thđang phải chấp hành án phạt tù tại Đội 17, phân trại số 1 thuộc Trại giam Hồng Ca, xã Hưng Khánh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Nay chị Mẩy xét thấy tình cảm không còn, mâu thuẫn không khắc phục được chị Mẩy có nguyện vọng được ly hôn với anh Chảo Duần Thiền.
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị Chảo Sử Mvà anh Chảo Duần Thcó hai người con chung cháu Chảo Láo T, sinh ngày 15/06/2000 và cháu Chảo Tả Mẩy, sinh ngày 12/10/2001. Hiện tại các cháu đã đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi) nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng anh chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án
giải quyết. Chị Chảo Sử Mẩy và anh Chảo Duần Thkhông vay nợ ai và cũng không cho ai nợ.
Tại các biên bản lấy lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt bị đơn anh Chảo Duần Thtrình bày:
Về thời gian, địa điểm, quá trình chung sống vợ chồng và con chung đúng như chị Chảo Sử Mẩy trình bày. Anh và chị Chảo Sử M chung sống như vợ chồng từ năm 1997 đến nay, không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật mà chỉ tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Muân thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên hoà giải nhưng không thành. Nay chị Mẩy làm đơn đề nghị Toà án giải quyết ly hôn, anh hoàn toàn nhất trí. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị M và anh Chảo Duần Thcó hai người con chung cháu Chảo Láo Tả, sinh ngày 15/06/2000 và cháu Chảo Tả Mẩy, sinh ngày 12/10/2001. Hiện tại các cháu đã đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi) anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng anh chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh và chị Mẩy không vay nợ ai và cũng không cho ai nợ.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã đảm bảo đúng quy định pháp luật về tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án giải quyết theo hướng:
Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Chảo Sử Mẩy và anh Chảo Duần Th là quan hệ vợ chồng.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Chị Chảo Sử Mphải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và ý kiến của của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng dân sự: Chị Chảo Sử Mẩy và anh Chảo Duần Thđều cư trú tại thôn Trung Ch, xã Dền Sáng, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
Tại phiên tòa chị Chảo Sử Mẩy, anh Chảo Duần Thcó đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Chảo Sử Mẩy, anh Chảo Duần Thiền.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Chảo Sử Mẩy và anh Chảo Duần Thchung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1987, quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được thời gian đã phát sinh mâu thuẫn, hai người đã sống ly thân nhau từ năm 1997. Nay chị Mẩy, anh Thiền xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Xét thấy thời điểm chị Chảo Sử Mẩy và anh Chảo Duần Thchung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1997 đến nay thì hai người đã đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 8 của luật hôn nhân gia đình năm 2014 nhưng chị Mẩy và anh Thiền cũng không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “ Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này”. Như vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử chấp yêu cầu khởi kiện của chị Chảo Sử Mẩy, không công nhận chị Chảo Sử Mẩy và anh Chảo Duần Thlà vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân gia đình.
Về con chung: Chị Chảo Sử Mẩy và anh Chảo Duần Thđều xác nhận có hai con chung là cháu Chảo Láo Tả, sinh ngày 15/06/2000 và cháu Chảo Tả Mẩy, sinh ngày 12/10/2001. Hiện tại các cháu đã đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi). Anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Chảo Sử Mẩy phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.
Từ những nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Chảo Sử Mẩy và anh Chảo Duần Thlà quan hệ vợ chồng.
2. Về án phí: Chị Chảo Sử Mẩy phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là
300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng)theo biên lai số 0002351 ngày 07/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bát Xát. Xác nhận chị Chảo Sử Mẩy đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Án xử công khai sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; huyện; - Các đương sự 2; - UBND xã Dền Sáng; - THADS; - Lưu HS, VP. | TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Minh Đức |