vanban.org

Bản án 04/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc Anh đối với anh Lê Hoàng Duy về việc “Xin ly hôn”.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Ngọc Anh và anh Lê Hoàng Duy được ly hôn. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Ngọc Tâm Đ, sinh ngày 18/12/2021 cho cho chị Nguyễn Ngọc Anh chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Lê Hoàng Duy không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc Anh đối với anh Lê Hoàng Duy về việc “Xin ly hôn”.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO L
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2023/HNGĐ- ST
Ngày : 05- 01- 2023
V/v tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà Vi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Đức Lâm

2. Bà Trần Thị Quế

- Thư ký phiên tòa: Bà Ka Hít- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Hồng- Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 253/2022/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 52/2022/ QĐST- HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc Anh, sinh năm 1998

Địa chỉ: Thôn 13, xã Lộc N, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Anh Lê Hoàng Duy, sinh năm 1998

Địa chỉ: Thôn 4, xã Lộc Q, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

(Chị Nguyễn Ngọc Anh có mặt; anh Lê Hoàng Duy có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/2022 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Anh trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc Anh và anh Lê Hoàng Duy chung sống với nhau từ năm 2021, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc N, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Trước khi chung sống cùng nhau hai người có quen biết tìm hiểu nhau được 08 năm. Việc chung sống là hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và được hai bên gia đình đồng ý. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân của mâu thuẫn là do anh Duykhông tôn trọng chị Anh, nghe theo ý kiến của bố mẹ, không có trách nhiệm với vợ con, không quan tâm chăm sóc gia đình, anh Duy đi làm không mang lương về phụ chị Anh chăm lo cho con và chi tiêu sinh hoạt hằng ngày trong gia đình dẫn đến cãi vã. Anh Duy xúc phạm vợ và gia đình bên vợ. Hai người đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không được. Đến tháng 9/2022 chị Anh đã đưa con về nhà mẹ ruột chị Anh sinh sống. Quá trình sống ly thân anh Duy cũng không quan tâm, chăm sóc gì đến vợ con, khi đưa con về nhà ông bà nội chơi anh Duy cũng không có thiện chí hòa giải. Nay tình cảm vợ chồng không còn, do vậy chị Nguyễn Ngọc Anh yêu cầu được giải quyết ly hôn với anh Duy.

Về con chung: Chị Nguyễn Ngọc Anh trình bày quá trình chung sống chị và anh Lê Hoàng Duy có 01 người con chung là Nguyễn Ngọc Tâm Đ, sinh ngày 18/12/2021. Ly hôn chị Nguyễn Ngọc Anh yêu cầu được nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Ngọc Tâm Đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Ngọc Anh không yêu cầu anh Duy phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Ngọc Anh trình bày chị và anh Lê Hoàng Duy không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Nguyễn Ngọc Anh trình bày chị và anh Lê Hoàng Duy không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Lê Hoàng Duy trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc Anh và anh Lê Hoàng Duy chung sống với nhau từ năm 2021, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc N, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Việc chung sống là hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và được hai bên gia đình đồng ý. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra cãi vã nhau nhưng mâu thuẫn chưa đến mức phải ly hôn. Do vậy anh Duy không đồng ý ly hôn mà đề nghị Tòa án hòa giải đoàn tụ cho anh Duy và chị Anh.

Về con chung: Anh Lê Hoàng Duy trình bày quá trình chung sống anh và chị Nguyễn Ngọc Anh có 01 người con chung là Nguyễn Ngọc Tâm Đ, sinh ngày 18/12/2021. Ly hôn anh Lê Hoàng Duy đồng ý giao con chung cho chị Anh nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Duy không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh Lê Hoàng Duy trình bày anh và chị Nguyễn Ngọc Anh không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh Lê Hoàng Duy trình bày anh và chị Nguyễn Ngọc Anh không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 27/10/2022 nhưng không thành do anh Lê Hoàng Duy vắng mặt.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn và bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu.

Sau khi kết thúc phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và về việc giải quyết vụ án như sau: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về quan hệ hôn nhân xử cho chị Nguyễn Ngọc Anh và anh Lê Hoàng Duy được ly hôn, về con chung giao 01 con chung là Nguyễn Ngọc Tâm Đ, sinh ngày 18/12/2021 cho chị Nguyễn Ngọc Anh chăm sóc và nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Lê Hoàng Duy không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung đề nghị HĐXX không xem xét, về án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

I. Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp:

Chị Nguyễn Ngọc Anh yêu cầu giải quyết về ly hôn, con chung với anh Lê Hoàng Duy, có địa chỉ tại thôn 4, xã Lộc Quảng, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng, căn cứ theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo L.

II. Về nội dung vụ án:

{1} Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc Anh và anh Lê Hoàng Duy chung sống với nhau từ năm 2021, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc N, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Việc chung sống là hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và được hai bên gia đình đồng ý. Theo chị Anh trình bày quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân của mâu thuẫn là do anh Duykhông tôn trọng chị Anh, nghe theo ý kiến của bố mẹ, không có trách nhiệm với vợ con, không quan tâm chăm sóc gia đình, anh Duy đi làm không mang lương về phụ chị Anh chăm lo cho con và chi tiêu sinh hoạt hằng ngày trong gia đình dẫn đến cãi vã. Anh Duy xúc phạm vợ và gia đình bên vợ. Hai người đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không được. Đến tháng 9/2022 chị Anh đã đưa con về nhà mẹ ruột chị Anh sinh sống. Quá trình sống ly thân anh Duy cũng không quan tâm, chăm sóc gì đến vợ con, khi đưa con về nhà ông bà nội chơi anh Duy cũng không có thiện chí hòa giải. Nay tình cảm vợ chồng không còn, do vậy chị Nguyễn Ngọc Anh yêu cầu được giải quyết ly hôn với anh Duy.

Còn anh Lê Hoàng Duy cho rằng quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, có xảy ra việc cãi vã. Nhưng anh Duy cho rằng mâu thuẫn chưa đến mức ly hôn.Tại phiên tòa anh Duy trình bày cần thời gian 1 năm để vợ chồng hoà giải, sau khi hòa giải không được thì anh Duy đồng ý ly hôn, do vậy anh Duy không đồng ý ly hôn mà đề nghị Tòa án hòa giải đoàn tụ cho anh Duy và chị Anh.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không thành do anh Lê Hoàng Duy vắng mặt. Tuy nhiên anh Duy muốn vợ chồng có thời gian hàn gắn tình cảm nhưng không hề có có động thái hay tác động gì để vợ chồng đoàn tụ nên chứng tỏ anh Duy không có thiện chí hòa giải. Do vậy có cơ sở để khẳng định giữa chị Anh và anh Duy xảy ra mâu thuẫn nhiền lần. Mâu thuẫn chính của vợ chồng là do anh Duy không tôn trọng vợ và quan tâm chăm sóc gia đình dẫn đến cãi vã, vợ chồng không hàn gắn được tình cảm. Xét thấy hôn nhân đã có mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, hai người đã nhiều lần hòa giải nhưng không hàn gắn tình cảm được nên cần căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử chị Nguyễn Ngọc Anh và anh Lê Hoàng Duy được ly hôn là có căn cứ và đúng pháp luật.

{2} Về con chung: Xét lời khai của chị Nguyễn Ngọc Anh và anh Lê Hoàng Duy, căn cứ vào giấy khai sinh chị Nguyễn Ngọc Anh nộp cho Tòa án thì quá trình chung sống chị Nguyễn Ngọc Anh và anh Lê Hoàng Duy có 01 người con chung là Nguyễn Ngọc Tâm Đ, sinh ngày 18/12/2021. Ly hôn chị Nguyễn Ngọc Anh có yêu cầu nuôi dưỡng con chung, còn anh Duy cũng đồng ý giao con chung cho chị Anh chăm sóc và nuôi dưỡng.

Hiện nay con chung chưa đủ 36 tháng tuổi và xét nguyện vọng nuôi con và giao con của chị Nguyễn Ngọc Anh và anh Lê Hoàng Duy là có cơ sở và đúng pháp luật, vì vậy để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức của con, Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 70, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung là Nguyễn Ngọc Tâm Đ, sinh ngày 18/12/2021 cho chị Nguyễn Ngọc Anh nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Ngọc Anh không yêu cầu anh Lê Hoàng Duy cấp dưỡng nuôi con và anh Duy cũng đồng ý không cấp dưỡng nuôi con mà hai người tự thỏa thuận do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

{3} Về tài sản chung: Chị Nguyễn Ngọc Anh và anh Lê Hoàng Duy trình bày quá trình chung sống không có tài sản chung nên không có yêu cầu. Do vậy Hội đồng xét xử không đề cấp đến.

{4} Về nợ chung: Chị Nguyễn Ngọc Anh và anh Lê Hoàng Duy trình bày quá trình chung sống hai người không có nợ chung nên không có yêu cầu do vậy Hội đồng xét xử không đề cập đến.

{5} Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đây là vụ án không có giá ngạch, cần buộc chị Nguyễn Ngọc Anh phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 235, Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 5, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 70, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc Anh đối với anh Lê Hoàng Duy về việc “Xin ly hôn”.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Ngọc Anh và anh Lê Hoàng Duy được ly hôn.

2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Ngọc Tâm Đ, sinh ngày 18/12/2021 cho cho chị Nguyễn Ngọc Anh chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Lê Hoàng Duy không phải cấp dưỡng nuôi con.

“Quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình”.

3. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Ngọc Anh phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Nguyễn Ngọc Anh đã nộp tại biên lai nộp tiền tạm ứng án phí số 0009556 ngày 04/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Chị Nguyễn Ngọc Anh đã nộp xong.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2015.

Cỡ chữ