- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị X - Phạm Văn Q"
- Tòa quyết gì? Căn c vào khoản 2 Điều 308; khoản 1 Điều 30 ; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 3 ; điểm a khoản 1 Điều 3 ; khoản 4 Điều 1 , khoản 2 Điều 1 8 và khoản Điều 313 của Bộ luật tố tụng dân sự;
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2023/HNGĐ-PT Ngày: 26-7-2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hòa
Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thu Hương
Bà Bùi Thị Thu Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Giáp Thị Bích Phượng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hòa, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử ph c thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2023/TLPT- HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 01/2023/HNGĐ-ST ngày 23/03/2022 của Tòa án nhân dân huyện M bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử ph c thẩm số: 20/2023/QĐ-PT ngày 26/6/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị X, sinh năm 1989; nơi cư tr : t dân cư số A, x M, huyện M, tỉnh Điện Biên (có mặt).
- Bị đơn: Anh Phạm Văn Q, sinh năm 1976; nơi cư tr : t dân cư số A, x M, huyện M, tỉnh Điện Biên (có mặt).
- Người kháng cáo: Chị Phạm Thị X - Là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 10/10/2022, bản tự khai ngày 23/5/2022 và quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn chị Phạm Thị X trình bày:
Về hôn nhân: Chị Phạm Thị X và anh Phạm Văn Q đăng ký kết hôn ngày 01/4/2010, tại UBND x N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh ph c được 10 năm, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thu n do bất đồng uan điểm sống và cách nuôi dạy con, chị X cho rằng anh Q nhiều lần có lời lẽ x c phạm danh dự, nhân phẩm, vu khống, bịa đặt cho chị làm cháu Đ bị ảnh hưởng tâm lý, d n đến mâu thu n vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không hạnh phúc, từ ngày 20/8/2022 chị X dọn ra ngoài thuê nhà ở riêng và mang theo con trai lớn là cháu Phạm Thành Đ. Chị X xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên xin ly hôn với anh Q.
Về con chung: Chị X và anh Q có 02 con chung là Phạm Thành Đ - sinh ngày 08/11/2011 và Phạm Tiến T - sinh ngày 15/4/2014, hiện cháu Đ đang ở với chị X, cháu T đang ở với anh Q. Nguyện vọng của chị là sau khi ly hôn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con, yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/tháng/con cho đến khi các con đủ 18 tu i và có khả năng lao động; chị X khẳng định có đủ khả năng tài chính và điều kiện để chăm sóc, nuôi dạy các con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị X không yêu cầu giải uyết trong vụ án này.
Tại bản tự khai ngày 08/12/2022, văn bản trình bày ý kiến ngày 21/12/2022 và quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm bị đơn anh Phạm Văn Q trình bày:
Về uan hệ hôn nhân: Anh Q và chị Phạm Thị X kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND x N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên ngày 01/4/2010. Quá trình chung sống rất hạnh ph c, vợ chồng tôn trọng thương yêu nhau, cùng nhau làm ăn, chăm lo vun vén cho gia đình; anh Q chưa bao giờ x c phạm hay đánh đập chị X, thỉnh thoảng vợ chồng to tiếng mắng chửi nhau nhưng chỉ là mâu thu n nhỏ nhặt thoáng ua, sau đó vợ chồng vui vẻ trở lại; trong thời gian chị X ở riêng, anh Q v n uan tâm, chăm sóc hai mẹ con. Anh Q khẳng định v n yêu thương chị X và mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau chăm sóc, nuôi dạy con cái vì anh chị có một người con bị mắc ch ng tự k , cần sự chăm sóc của cả cha và mẹ.
Về con chung: Anh Q thống nhất lời khai như nội dung chị X trình bày. Tuy nhiên anh Q không đồng ý ly hôn nên không đặt vấn đề giải uyết về nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh Q không yêu cầu Tòa án giải uyết.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 01/2023/HNGĐ-ST ngày 23/3/2023 của TAND huyện M, tỉnh Điện Biên quyết định:
Căn c khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 3 , điểm a khoản 1 Điều 39; Các Điều 1 3, 1 , 22 , 2 , 2 1 và Điều 2 3 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 3 Bộ luật dân sự; Các Điều 8, , Luật hôn nhân và gia đình năm 201 ; các Điều , , , và điểm a khoản Điều 2 Nghị uyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/201 uy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, uản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị X về việc yêu cầu ly hôn với anh Phạm Văn Q.
- Về nuôi con chung: Không chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị X về việc yêu cầu giải uyết nuôi con chung.
- Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Thị X, anh Phạm Văn Q có tài sản chung và nợ chung nhưng không yêu cầu Tòa án giải uyết.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và uyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 04/4/2023, chị Phạm Thị X nộp đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp ph c thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, giải uyết cho chị được ly hôn với anh Q, đồng thời giao cho chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung là Phạm Thành Đ và Phạm Tiến T, chị yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung với m c 3.000.000 đồng/tháng/con cho đến khi các con đủ 18 tu i và có khả năng lao động.
Quá trình giải uyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm, chị X nộp b sung một số tài liệu, ch ng c để ch ng minh anh Q đ vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng. Thẩm phán đ tiến hành ghi ý kiến của các con, cháu Phạm Thành Đ có nguyện vọng ở với mẹ, cháu Phạm Tiến T có nguyện vọng ở với bố.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Chị X v n giữ nguyên nội dung kháng cáo, chị cho rằng hôn nhân không còn hạnh ph c từ lâu, anh Q gia trưởng, không tôn trọng chị, mọi công việc gia đình anh không đỡ đần, chia sẻ, gánh vác với chị; anh nói với người ngoài là chị có uan hệ ngoại tình, làm ảnh hưởng đến phẩm chất, danh dự của chị; anh chị thường to tiếng mắng chửi nhau về phương pháp nuôi dưỡng, giáo dục con; có vài lần anh Q dùng bạo lực với chị nên chị phải đi điều trị (truyền ô xy)…từ đó chị không còn yêu thương anh Q, chị cảm thấy đời sống chung của vợ chồng ngột ngạt, căng thẳng nên không muốn duy trì cuộc hôn nhân này nữa; anh chị đ sống ly thân gần một năm, không còn uan tâm, chia sẻ với nhau mọi công việc nữa; chị khẳng định tình cảm dành cho anh Q không còn nên chị cương uyết xin được ly hôn. Về con chung, chị X đề nghị Tòa án giao cho mỗi người nuôi một con theo nguyện vọng của các con, đó là giao cho chị X nuôi dưỡng cháu Đ, anh Q nuôi dưỡng cháu T, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào, anh chị đều có s c khỏe và có thu nhập nên đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Anh Q cho rằng, trong cuộc sống đôi l c vợ chồng to tiếng với nhau nhưng chỉ là những mâu thu n nhỏ nhặt, không làm ảnh hưởng đến hạnh ph c gia đình, anh là người nóng tính nhưng hết mực yêu thương vợ con, anh chưa bao giờ đánh đập hay dùng bạo lực với chị X, anh công nhận những hình ảnh chị X cung cấp cho Tòa án là chụp vết thương trên cơ thể chị X, những vết bầm tím này không phải anh gây ra; trong thời gian vợ chồng sống ly thân, anh rất ít gặp và không liên lạc được với chị X vì chị cố tình tránh mặt và chặn mọi nguồn liên lạc với anh; theo anh Q, mâu thu n vợ chồng chưa đến m c phải ly hôn, anh v n còn rất yêu thương vợ và tha thiết mong được đoàn tụ, vì vậy anh không đồng ý ly hôn. Trường hợp Tòa án giải uyết cho ly hôn, anh Q nhất trí với ý kiến của chị X về việc giao cho chị X nuôi dưỡng cháu Đ, anh Q nuôi dưỡng cháu T, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào, anh có đủ điều kiện về mọi mặt để nuôi dưỡng con chung.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên:
Quá trình giải uyết vụ án ở cấp ph c thẩm, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và những người tiến hành tố tụng đ tuân thủ đ ng các uy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự chấp hành đầy đủ uyền và nghĩa vụ do pháp luật uy định.
Đơn kháng cáo của chị X nộp trong hạn luật định nên kháng cáo hợp lệ. Qua xem xét toàn diện các tài liệu, ch ng c và kết uả tranh tụng tại phiên tòa ph c thẩm, thấy rằng: Trong uá trình chung sống, anh Q và chị X đ vi phạm uyền và nghĩa vụ của vợ chồng uy định tại Điều 1 , 1 Luật Hôn nhân gia đình, vợ chồng không tôn trọng nhau, không còn yêu thương, uan tâm, chia sẻ, gi p đỡ nhau, không còn sống chung với nhau; anh chị đ từng ra Tòa giải uyết ly hôn nhưng sau đó r t đơn để tạo cơ hội cho nhau cùng sửa chữa khuyết điểm, xây dựng gia đình hạnh ph c, nhưng v n không mang lại kết uả. tại phiên tòa ph c thẩm chị X nhiều lần khẳng định nếu Tòa án không giải uyết cho chị ly hôn, chị cũng không bao giờ uay về chung sống cùng anh Q. Anh Q cũng không đưa ra được giải pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy có thể thấy rằng, hôn nhân của anh Q và chị X không còn hạnh ph c, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, vì vậy căn c uy định tại khoản 1 Điều của Luật hôn nhân và gia đình năm 201 cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của Phạm Thị X; về con chung, căn c vào nguyện vọng của các con và ý kiến của các đương sự tại phiên tòa, đề nghị HĐXX ph c thẩm giao cho chị X nuôi dưỡng cháu Đ, giao cho anh Q nuôi dưỡng cháu T, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đề nghị Hội đồng xét xử ph c thẩm căn c khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của chị Phạm Thị X; sửa Bản án sơ thẩm số 01/2023/HNGĐ-ST ngày 23/3/2023 của TAND huyện M, tỉnh Điện Biên; về án phí đề nghị Tòa án giải uyết theo uy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên c u các tài liệu, ch ng c có trong hồ sơ vụ án đ được xem xét tại phiên tòa và kết uả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Căn c vào yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị X về việc xin ly hôn với anh Phạm Văn Q, Tòa án nhân dân huyện M xác định uan hệ pháp luật là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, tiến hành thụ lý và giải uyết vụ án là đ ng uy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 3 , điểm a khoản 1 Điều 3 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đơn kháng cáo của chị Phạm Thị X được nộp trong thời hạn luật định, nội dung và hình th c đảm bảo theo uy định tại Điều 2 2, Điều 2 3 của Bộ luật tố tụng dân sự nên kháng cáo hợp lệ.
Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn chị Phạm Thị X:
Về hôn nhân:Tòa án cấp sơ thẩm nhận định chị X và anh Q chung sống hạnh ph c được một thời gian dài và đ có 02 con chung. Chị X xin ly hôn với anh Q do bất đồng uan điểm sống và cách nuôi dạy con, nhưng không cung cấp được tài liệu, ch ng c ch ng minh nên không chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị.
Quá trình giải uyết vụ án tại Tòa án cấp ph c thẩm, chị X cung cấp b sung tài liệu, ch ng c là một số hình ảnh chụp vết bầm tím trên cơ thể chị, hình ảnh chị đang truyền; giấy xác nhận về tình trạng tinh thần của cháu Đ; s theo dõi nhận tiền trợ cấp khuyết tật; đơn khởi kiện lần đầu và Quyết định đình chỉ giải uyết vụ án số 03/2022/QDDST-HNGĐ ngày 27/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện M.
Tại phiên tòa ph c thẩm, chị X giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo, chị khẳng định cuộc sống chung của chị và Q không còn hạnh ph c, mâu thu n vợ chồng căng thẳng kéo dài khiến cho chị không còn yêu thương, uan tâm anh Q, anh chị đ sống ly thân, không còn uan tâm đến nhau nữa, vì vậy chị cương uyết xin ly hôn. Anh Q khẳng định mâu thu n vợ chồng chỉ là nhỏ nhặt, anh v n còn yêu thương chị X nên không đồng ý ly hôn.
Xét thấy, đây là lần th hai chị X nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án, chị X và anh Q không còn sống chung với nhau, không còn uan tâm, liên lạc trao đ i chia sẻ với nhau mọi công việc gia đình; tại phiên tòa anh chị gay gắt đối đáp nhau, thiếu tôn trọng nhau, anh Q không có giải pháp để hàn gắn mâu thu n; chị X nhiều lần khẳng định tình cảm dành cho anh Q không còn, nếu Tòa án không giải uyết cho chị ly hôn, chị cũng không bao giờ uay về chung sống cùng anh Q. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân chỉ thật sự hạnh ph c khi có sự tự nguyện xây dựng từ hai phía, vợ chồng cùng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, gi p đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình, sống chung với nhau. Qua các tài liệu, ch ng c cung cấp b sung và tranh tụng công khai, dân chủ tại phiên tòa ph c thẩm, thấy rằng anh Q và chị X đ vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng uy định tại Điều 1 và Điều 1 Luật Hôn nhân và gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn c uy định tại khoản 1 Điều 1 và khoản 1 Điều Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận kháng cáo của chị X, xử cho chị X được ly hôn với anh Q.
. Về con chung: Căn c các tài liệu, ch ng c đ thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự thể hiện: chị X và anh Q có hai con chung là cháu Phạm Thành Đ, sinh ngày 08/11/2011 và cháu Phạm Tiến T, sinh ngày 05/4/2014, hiện cháu Đ đang ở với chị X, còn cháu T đang ở với anh Q. Tòa án cấp ph c thẩm đ tiến hành ghi ý kiến nguyện vọng của con từ đủ tu i trở lên theo uy định tại đoạn 2 khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự, cháu Đ có nguyện vọng ở với mẹ, cháu T có nguyện vọng ở với bố. Tại phiên tòa ph c thẩm, anh Q và chị X nhất trí nuôi con theo nguyện vọng của các con, anh chị khẳng định có đủ s c khỏe và điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, không bên nào yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy, việc uyết định giao con cho bên nào trực tiếp nuôi dưỡng đều xuất phát từ lợi ích của đ a trẻ nhằm đảm bảo uyền lợi tốt nhất về mọi mặt cho trẻ sau khi cha mẹ ly hôn; chị X và anh Q đều có điều kiện, khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc các con. Do đó, để đảm bảo uyền lợi về mọi mặt cho con, cần căn c vào Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu Phạm Thành Đ cho chị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng; giao cháu Phạm Tiến T cho anh Phạm Văn Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng; hai bên không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
Từ những nhận định, phân tích trên, căn c uy định tại khoản 2 Điều 308; khoản 1 Điều 30 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử ph c thẩm chấp nhận kháng cáo của chị Phạm Thị X, sửa bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 01/2023/HNGĐ-ST ngày 23/3/2023 của TAND huyện M.
. Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tại phiên tòa là có căn c nên được chấp nhận.
. Các uyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
. Về án phí: Do kháng cáo chị Phạm Thị X được chấp nhận nên chị X không phải chịu án phí dân sự ph c thẩm, trả lại số tiền tạm ng án phí ph c thẩm cho chị X theo uy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c vào khoản 2 Điều 308; khoản 1 Điều 30 ; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 3 ; điểm a khoản 1 Điều 3 ; khoản 4 Điều 1 , khoản 2 Điều 1 8 và khoản Điều 313 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn c vào Điều 17, Điều 19, khoản 1 Điều 1, khoản 1 Điều của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn c khoản 2 Điều 2 Nghị uyết số 32 /201 /UBTVQH1 ngày 30/12/201 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 1 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, uản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận kháng cáo của chị Phạm Thị X; sửa Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 01/2023/HNGĐ-ST ngày 23/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Điện Biên.
1. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị X được ly hôn với anh Phạm Văn Q.
2. Về con chung:
Giao con Phạm Thành Đ, sinh ngày 08/11/2011 cho chị Phạm Thị X có uyền, nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con đủ tu i thành niên và có tài sản để tự nuôi mình hoặc cho đến khi có thay đ i khác.
Giao con Phạm Tiến T, sinh ngày 05/4/2014 cho anh Phạm Văn Q có uyền, nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con đủ tu i thành niên và có tài sản để tự nuôi mình hoặc cho đến khi có thay đ i khác.
Chị Phạm Thị X và anh Phạm Văn Q không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có uyền thăm nom con mà không ai được cản trở và có nghĩa vụ tôn trọng uyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, t ch c uy định tại khoản Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể uyết định thay đ i người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị X phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ng án phí đ nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 000
ngày 0 tháng 11 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Điện Biên. Chị X đ nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3.2. Về án phí ph c thẩm: Chị Phạm Thị X không phải chịu án phí dân sự ph c thẩm do kháng cáo của chị Phạm Thị X được chấp nhận. Hoàn trả cho chị X 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ng án phí ph c thẩm đ nộp tại Biên lai số 0009858 ngày 06/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Điện Biên.
4. Bản án ph c thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (2 / /2023)./.
| Nơi nhận: - TAND huyện M; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Chi cục THADS huyện M; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Hòa |